Lời tri ân của cha Fx. Nguyễn Tiến Dưng, đại diện cho các thế hệ học trò của thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

1841

“BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG LÀ ĐÂU?”
Lm. Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA

Thầy kính mến,

Ngày thầy rời nhà để theo đạo Công giáo, hầu hết người trong gia đình Thầy buồn rầu, thất vọng, vì cho rằng thầy bất hiếu: bỏ truyền thống, bỏ tổ tiên, bỏ gia đình, bỏ quê cha đất tổ. Chỉ có mẹ của thầy, người hiểu thầy nhất, đã tự vấn: “Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu”. Câu nói này đã gợi hứng cho tựa đề cuốn sách mà nhân vật trong chuyện chính là thầy. Hôm nay, cuốn sách tiếp tục được viết …Không biết Kẻ Đọng có còn đọng lại giọt nước mắt nào ngày xưa nữa không? Nhưng có ai ngờ rằng những giọt nước mắt trên miền đất Hương Sơn ngày nào bây giờ trở thành niềm hoan lạc trong ngôi nhà thờ chính tòa Văn Hạnh, con tim của người Công giáo hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình.

Hôm nay, chúng em, những môn sinh may mắn được gặp thầy trong hành trình sống, về đây để cùng thầy tạ ơn Trời, biết ơn người.

– Tạ ơn vì Chúa đã quan phòng kỳ diệu: Một trí thức, con một vị quan thượng thư có thể thi trượt đại học; nhờ đó, thầy vào học trường Thiên Hữu, một trường Công giáo, nên thầy có cơ may biết Chúa Ki-tô. Quả là trong họa có phúc!

– Tạ ơn vì ngay cả biến cố đến với quê hương đất nước, với gia đình thầy, khi cha của mình bị đấu tố, không biết dạt vào đâu, và cha Vương Đình Ái đã cưu mang, cho thầy vào dạy ở trường Đậu Quang Lĩnh. Nhờ đó, thầy quyết định gia nhập Giáo Hội và xin đi tu. Quả là trong bóng tối tiềm ẩn ánh sáng!

– Tạ ơn vì Dòng Phanxico đã nhận Thầy, đưa vào Nam, rồi gửi sang Pháp; qua đó, thầy tiếp cận với triết học Tây Phương ở Kinh thành ánh sáng, đại học Sorbonne; để rồi thầy đi ra khỏi vòng luẩn quẩn của suy tư Đông Phương tự coi mình là cái nôi của thế giới. Quả là đường đời có Chúa!

– Tạ ơn vì thầy đã quyết định chọn đất Việt để trở về sinh sống; nhờ đó, bao thế hệ được thầy truyền đạt kiến thức ở Đại Học Nhân Văn, Giáo Hoàng Học Viện, các Chủng viện và nhiều Học viện. Quả là Chúa dẫn con đi, lại đưa con về!

– Sau biến cố 75, thầy cũng cất cao tiếng tạ ơn, vì nhờ lao tù, khổ cực, thầy hiểu hơn, thấm vào thịt gia, vào kiếp nhân sinh mầu nhiệm nhập thể, đồi Can-vê. Quả thực Thánh giá đã cắm vào lòng đất Việt, vào trái tim huyền nhiệm của từng con người!

Thầy luôn dạy chúng em nhìn mọi sự dưới ánh mắt đức tin. Cám ơn thầy vì luôn tháp tùng từng người. Thời không được dạy học, thầy đến với từng người. Ai nghèo, thầy cho ít tiến. Ai học giỏi, thầy cho cuốn sách triết. Ai đang đau khổ, thầy lắng nghe họ. Ai đang trôi dạt, thầy tìm cho bến đậu. Thầy cứ lang thang đây đó, như một người hành khất, quên cả tắm rửa, nhưng là để nối nhịp cầu, nhịp cầu cảm thông, nhịp cầu tâm giao. Gặp được thầy, ai cũng có cảm giác mình thêm được một người thầy, người cha, nhiều khi thầy giữ luôn cả vai trò người mẹ. Thầy sống không giống ai, và cũng chẳng ai giống giống thầy. Nhưng suy tư của thầy luôn mở ra, hoàn toàn có một khả thể khác ngoài các quy phạm thông thường. Thầy khác biệt nhưng không dị biệt!

Nhìn lại con đường của thầy, chúng em xác tín:

– Người trí thức, nho giáo, phật giáo, triết gia, …hoàn toàn có thể trở thành người công giáo, nhờ ơn Chúa. Đức Giê-su không lấy đi những gì tốt đẹp nơi các truyền thống văn hóa, nơi con người. Ngài chỉ gội rửa, đong đầy và siêu thăng chúng tới mức kiện toàn. Thầy là nhân chứng cho sự giao thoa tuyệt vời giữa đức tin và văn hóa.

– Một trí thức, một triết gia, một thần học gia, khi suy tư thì đi tận cùng lý trí, nhưng trong thực hành đức tin thì rất bình dị. Tràng hạt trên tay, quỳ gối trước thánh thể, đi hành hương, rước kiệu,… Thầy nói với chúng em, lý trí và đức tin bình dân luôn cần nhau như hai cánh của một con chim, để vươn cao vào thế giới siêu việt.

– Thầy vào dòng tu, rồi lại ra dòng, lại vào dòng, cứ lòng vòng ở chợ đời, nhưng chưa ai nói thầy bỏ tu. Và những năm tháng này, khi về già lại tìm một bến đậu nơi một tu đoàn do một giám mục gốc Vinh lập nên. Qua đó, thầy muốn nói với chúng em: bất cứ ở đâu mình cũng cần tu, bất cứ nơi đâu mình cũng tu được. Đường tu có Chúa!

– Thầy sống đơn sơ, không chức vụ, không quyền bính, nhưng thầy luôn được mọi ngươi tôn trọng yêu mến tự đáy lòng. Bởi ai đến với thầy đều cảm giác mình được yêu. Như thế, thầy nói với chúng em: cứ làm người, sống trọn cái trinh trong của kiếp người, đừng bọc lót quá nhiều!

– Thầy cũng luôn tôn trọng phẩm trật trong Giáo Hội: Thầy quỳ gối trước các học trò của mình khi họ được tấn phong giám mục, được lãnh chức linh mục. Thầy yêu Giáo Hội dù thầy biết trong đó có những con người mỏng dòn, yếu đuối, tội lỗi, bởi thầy biết Giáo Hội do ai lập và ai đang là người chèo lái con thuyền này.

– Và cuối cùng, thầy biết ai là người đang chèo lái con thuyền của đời thầy. Vì thế chúng em xin trao gửi thầy cho Ngài. Xin Ngài dẫn thầy đi tiếp con đường về với Ngài, Đấng thầy luôn kiếm tìm, khát vọng, và đợi chờ. Nhưng trên con đường lữ hành này, thầy nói với chúng em hãy bám vào áo Mẹ. Khi bố giận thì nhờ Mẹ giúp cho một lời:

“Ave Maria,
Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc.
Con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên.
Và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt.
Đấng Muôn Trùng khấng nhận đời con”.