Ý nghĩa của từ Ha-lê-lui-a

307

“Ha-lê-lui-a” gốc tiếng Híp-ri: הַ֥לְלוּ יָ֙הּ  (viết và đọc từ phải qua trái), chuyển tự: “halǝlû yāh”. Tiếng Hy Lạp trong bản LXX và Tân Ước giữ nguyên ngữ: ἁλληλουϊά (hallêlu-ia). Chuyển âm tiếng Việt: “Ha-lê-lui-a”.

Từ Híp-ri “halǝlû yāh” gồm hai yếu tố: (a) “halǝlû” là động từ ở dạng Piel, lối mệnh lệnh, giống đực, ngôi thứ hai, số nhiều, nghĩa: “Hãy ngợi khen”; (b) “yāh” là danh xưng Đức Chúa của Ít-ra-en. Đây là cách viết khác của thánh danh Đức Chúa: YHWH. Người Do Thái chỉ viết chứ không đọc bốn phụ âm này. Khi gặp từ YHWH người Do Thái đọc là “aʾdōnāy” (A-đô-nai). Vậy nghĩa từ “Ha-lê-lui-a” là “hãy ngợi khen Thiên Chúa”.

Trong Cựu Ước, một số thánh Vịnh bắt đầu bằng từ “Ha-lê-lui-a”, chẳng hạn Tv 111 (110) – 114 (113a); 146 (145) – 150. Trong Tân Ước, từ “Ha-lê-lui-a” chỉ xuất hiện 4 lần trong sách Khải Huyền (Kh 19,1.3.4.6) và đặt trong bối cảnh phụng vụ. Dưới đây là bản văn Kh 19,1-7, lấy trong Sách Khải Huyền, Hy Lạp – Việt, 2011:

“19,1 Sau những điều đó, tôi nghe như một tiếng lớn của đoàn người đông đảo trên trời rằng: “Ha-lê-lui-a, ơn cứu độ, vinh quang và quyền năng thuộc về Thiên Chúa của chúng ta, 2 vì những phán quyết của Người thì chân thật và công minh vì Người đã kết án Con Điếm khét tiếng, từng phá huỷ mặt đất bằng sự gian dâm của nó, và Người bắt  đền nợ máu của các tôi tớ của Người đã bị giết bởi tay nó.” 3 Lần thứ hai họ nói: “Ha-lê-lui-a, và khói của nó bốc lên đời đời kiếp kiếp.” 4 Và hai mươi bốn vị Kỳ Mục và bốn sinh vật phủ phục thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai rằng: “A-men, ha-lê-lui-a.” 19,5 Rồi một tiếng từ ngai phát ra nói rằng: “Hãy ca ngợi Thiên Chúa chúng ta, hỡi tất cả các tôi tớ của Người, [và] những kẻ kính sợ Người, những kẻ bé và những người lớn.” 6 Và tôi nghe như tiếng của đoàn người đông đảo, như tiếng nước lũ và như tiếng sấm dữ dội nói rằng: “Ha-lê-lui-a, vì Đức Chúa, Thiên Chúa [của chúng ta], Đấng Toàn Năng, đã hiển trị. 7 Chúng ta hãy vui mừng, hãy hoan hỷ và hãy dâng lên Người sự tôn vinh, vì hôn lễ của Con Chiên đã tới và Hôn Thê của Người đã tự chuẩn bị, 8 và đã ban cho nàng được mặc áo vải gai mịn, sáng chói  tinh tuyền.” – Vải gai mịn là những việc công chính của các thánh –.”

Ở Kh 19,1, từ “Ha-lê-lui-a” đứng trước lời tung hô của đoàn người đông đảo trên trời. Từ “Ha-lê-lui-a” ở 19,3 đứng trước lời xét xử thành Rô Ma. Lời này có ý ngợi khen Thiên Chúa, vì Người đã xét xử công minh cho những người bị Rô Ma bách hại và giết chết. Lần cuối cùng từ “Ha-lê-lui-a” đặt trước lời ca tụng: “Ha-lê-lui-a, vì Đức Chúa, Thiên Chúa [của chúng ta], Đấng Toàn Năng, đã hiển trị.” (19,6). Các câu Kh 19,1-2 và 5-7 dùng làm thánh ca trong Phụng vụ Các Giờ Kinh:

1 Ha-lê-lui-a. Thiên Chúa ta thờ là Đấng Cứu Độ,
Đấng vinh hiển uy quyền. *
2 Những lời Người phán quyết
đều chân thật công minh. Ha-lê-lui-a.

5 Ha-lê-lui-a. Nào ca ngợi Chúa đi,
hỡi tất cả tôi trung của Chúa, *
hỡi những ai lớn nhỏ
hằng kính sợ Người. Ha-lê-lui-a.

6 Ha-lê-lui-a. Đức Chúa là Thiên Chúa toàn năng
đã lên ngôi hiển trị : *
Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ
dâng Chúa lời tôn vinh. Ha-lê-lui-a.

7 Ha-lê-lui-a. Vì nay đã tới ngày
cử hành hôn lễ Chiên Thiên Chúa, *
và Hiền Thê của Người
đã điểm trang lộng lẫy. Ha-lê-lui-a

(bản dịch Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ).

“Ha-lê-lui-a” đã quen dùng trong phụng vụ Ki-tô Giáo, đặc biệt trong mùa Phục Sinh. Phụng vụ mời gọi cộng đoàn tung hô “Ha-lê-lui-a” (hãy ngợi khen Thiên Chúa) vì Người đã bày tỏ quyền năng cứu độ nhân loại qua biến cố Đức Giê-su Phục Sinh.

Giuse Lê Minh Thông, OP