Chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân

619

Với quan tâm chung của Giáo Hội hoàn vũ về việc chăm sóc các gia đình, HĐGM Việt Nam đã chọn ba năm liên tiếp (2017-2019) để đặc biệt chuẩn bị, củng cố và nâng đỡ các gia đình.

Năm 2017 là năm “chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân”. Vì thế, chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả loạt bài viết của tân Linh mục Pr. Lê Hoàng Nam, S.J. về chủ đề này.

Nội dung loạt bài gồm 19 bài viết chính cho chủ đề, và 8 bài viết đã đăng trước đây có liên quan đến chủ đề.

Sau đây là danh sách các bài theo thứ tự:

1- Huyền nhiệm con người

2- Thân xác con người

3- Con người – Loài có tương quan

4- Con người có nam và có nữ

5- Giới tính của con người

6- Những tệ nạn ngày nay liên quan đến tính dục

7- Vào đời và trải nghiệm tình yêu

8- Tình yêu và những hiểu lầm

9- Một tình yêu đúng nghĩa

10- Xây dựng tình yêu đích thực

11- Những quan điểm sai lầm liên quan đến hôn nhân

12- Người nữ

13- Đặc tính hôn nhân Kitô giáo

14- Ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo

15- Những quy định của Giáo hội liên quan đến hôn nhân

16- Vài vấn đề khác liên quan đến hôn nhân

17- Đặc ân Phaolô và đặc ân Phêrô

18- Trách nhiệm giáo dục người trẻ

19- Chuẩn bị bước vào hôn nhân

CÁC BÀI LIÊN QUAN:

20- Người tôi yêu

21- Khi đã không yêu

22- Khi tình yêu tan vỡ (Khi con tim tan vỡ)

23- Sau một tình yêu

24- Tình yêu không có lỗi (Cuộc chiến trong tình yêu)

25- Hạnh phúc gia đình

26- Tìm hạnh phúc nơi đâu

27- Hạnh phúc – Cứu cánh tối hậu của đời sống luân lý theo lối tiếp cận của thánh Tôma Aquinô

28- Làm cha, làm mẹ (Niềm vui của cha – Yêu thương của mẹ)

29- Khi đôi ta về một nhà

30- Hôn nhân không là mồ chôn tình yêu, cũng chẳng là bến đỗ!

Huyền nhiệm con người

Con người là một huyền nhiệm. Đây là điều mà chúng ta đã nhiều lần nghe nói đến, và chắc hẳn là trong một khoảnh khắc nào đó ngồi trầm tư, chính bản thân ta cũng đồng ý với điều này. Sự huyền nhiệm của con người được thể hiện trong sự hiện hữu của mình, và được nhận biết ngay chính những quan sát của ta nơi môi trường bên ngoài và trong nội tâm. Biết bao nhiêu áng văn thơ, các bài viết nói về con người. Biết bao nhiêu nghiên cứu về con người. Biết bao nhiêu khám phá khoa học về con người. Nhưng chẳng bao giờ người ta thấy đủ cả. Vẫn luôn còn đó những điều liên quan đến con người mà chẳng bao giờ nhân loại này có thể biết được hết.

Ai cũng phải thừa nhận sự cao cả và khác biệt của con người so với mọi loài trong trời đất. Chỉ xét về mặt sinh học thôi, con người đã được cấu tạo theo một cách thức “vi diệu hết mức” rồi. Từ cấu thành của bộ não đến các bộ phận khác trên cơ thể, chẳng ai quan sát tường tận mà lại không thốt lên lời trầm trồ thán phục. Những loài động vật bậc cao với hệ thần kinh phát triển phức tạp nhưng linh trưởng, vượn, khỉ… dù có giỏi đến mức nào vẫn còn thua xa con người nhiều lắm. Chẳng có loài nào có thể giải những bài toán khó. Chẳng có loài nào có thể vẽ những bức tranh đẹp. Chẳng có loài nào có thể hát opera. Chẳng có loài nào có thể chơi đàn làm thơ. Chẳng có loài nào có thể làm ra những phát minh vĩ đại…

Nhưng con người trở nên đặc biệt không phải chỉ vì trổi vượt hơn những loài khác về sự phát triển đến mức cao của hệ thần kinh và sự phức tạp của cấu trúc xã hội. Quả vậy, con người không chỉ là loài xếp ở vị trí cao hơn hết trong cùng một giống nhưng là loài tách biệt ra khỏi mọi giống còn lại. Tự bản thân, chúng ta thấy mình không cùng một loại với các loài khác. Con chó khác với con mèo, nhưng ít ai phân biệt phẩm giá giữa con chó với con mèo. Chúng đều là động vật, thế thôi! Vậy mà, chẳng ai trong chúng ta thích khi bị xếp ngang hàng với cầm thú, dù là bất cứ loài nào. Cứ như thể, tất cả mọi loài thuộc về một phía; phía còn lại, ở vị trí cao hơn, là con người.

Quả vậy, dường như có một “bước nhảy” nào đó từ “loài thú” lên “loài người”. Về mặt sinh học, dĩ nhiên là con người trổi vượt hơn hết. Nhưng con người không chỉ là sinh học. Còn có cả một thế giới nội tâm khiến cho con người trở thành một “sự linh thánh”: con người là hiện thân của thần linh; xúc phạm con người là xúc phạm đến thần linh. Các nhà triết học nói rằng: con người là loài duy nhất có thể tự ý thức về mình. Con người là loài duy nhất có thể phác hoạ hình ảnh của chính mình. Con người là loài duy nhất không chỉ biết ăn, mà còn có thể biết là mình biết ăn. Tự ý thức là khả năng tự bước ra khỏi chính mình, nhìn ngược về mình để biết mình là ai, như thế nào. Con người không chỉ tồn tại, nhưng còn biết sống. Trên cõi đời này, chỉ có con người là băn khoăn về chính bản thân mình, về nguồn cội và về cùng đích hiện hữu của mình, về quá khứ, hiện tại, tương lai. Ngoài ra, cũng chỉ con người có đời sống tôn giáo, biết cầu nguyện. Nói cách khác, trong khi các loài khác chỉ có thể hướng đến cái hữu hình, con người lại có khả năng đưa mình lên với cái vô hình. Ngoài việc hướng ra, con người còn có thể hướng vào. Ngoài việc hướng xuống, con người còn có thể hướng thượng.

Tác giả sách Sáng Thế đã diễn tả sự cao quý của con người bằng những mô tả hết sức tỉ mỉ và đặc nét trong trình thuật sáng tạo. Để chuẩn bị cho sự hiện hữu của con người, Thiên Chúa đã trang hoàng mọi thứ cho đẹp mắt: từ trên trời xuống dưới đất, từ đất liền ra biển cả. Tất cả như “trải thảm” để đón chờ một giống loài đặc biệt nhất sắp sửa được tạo thành vào ngày cuối cùng của công trình tạo dựng. Con người cũng được dựng nên theo một cách thức rất khác biệt so với các loài kia. Thay vì chỉ phán một lời, Thiên Chúa đã cặm cụi lấy đất nắn thành con người. Ngài còn thổi hơi vào nó để nó được thừa hưởng sự sống. Sự linh thiêng của con người chính là nhờ có được sự ưu ái của Tạo Hoá: con người là giống loài duy nhất “theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa”. Là loài thụ tạo, nhưng con người lại có thể phản ánh dung nhan của Đấng Tối Cao theo một cách thức trọn vẹn nhất. Con người cũng lãnh nhận được sứ mạng của Ngài là làm chủ muôn loài trong trời đất, đặt tên cho nó và sử dụng nó để phục vụ cho cuộc sống của mình. Sau con người, Thiên Chúa không còn dựng nên loài gì nữa vì chẳng còn cần thiết. Con người đã là đỉnh cao của tất cả, là kiệt tác của thượng trí vô song rồi.

Sự hiện hữu của con người trong trời đất này quả thật là một hồng phúc. Dù chỉ là một loài thấp bé, chẳng đáng gì so với cái to lớn của vũ trụ, nhưng con người vẫn luôn thấy mình ở trên cao hết. Thiên Chúa đã xác chuẩn cho sự quý giá của con người bằng cách sai Con của mình giáng thế, trở thành một con người như mọi người. Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình trong thân xác một con người. Ngài không mượn thân xác của ai đó rồi “nhập” vào. Ngài không làm ra một thân xác tạm bợ để sử dụng xong rồi vứt. Ngài “chính là” thân xác ấy. Đụng chạm đến thân xác ấy là đụng chạm đến Ngài. Thân xác ấy là hiện thân hữu hình của Ngài từ lúc nhập thể cho đến mãi muôn đời, cả khi chết, sống lại và thăng thiên. Chính nhờ sự “hạ cố” nhập thể của Thiên Chúa mà ta càng cảm thấy giống loài con người của mình mới quý giá đến dường nào, bởi vốn dĩ đã đặc biệt, từ nay, con người càng trở nên đặc biệt hơn khi trở thành một “nơi” cho Đấng Tối Cao cư ngụ. Sự thánh thiêng đã lan toả khắp mọi nơi, thấm vào con người và làm cho con người trở nên dấu chỉ cụ thể và rõ ràng hơn cho hình ảnh Thiên Chúa mà mình đã nhận lãnh từ lúc được tạo thành.

Bởi thế, người ta mới nói đến con người như là một huyền nhiệm!

***

Thân xác con người

Chúng ta tự nhận biết mình là “con người”, khác với những loài khác. Chúng ta cũng biết rằng mình là một huyền nhiệm, một thực thể có tính linh thiêng duy nhất trong trời đất. Tuy nhiên, ít bao giờ chúng ta tự đặt câu hỏi: khi tôi nói mình là “con người”, tôi đang có ý gì vậy? Rõ ràng, hai chữ “con người” vẫn còn để lại trong chúng ta nhiều uẩn khúc chưa có lời giải đáp. Nhưng ít ra chúng ta nhận biết được một “con người” nhờ thân xác của họ, cái hữu hình đang hiện diện trước mắt chúng ta. Quả vậy, chẳng có con người nào lại không có thân xác. Cũng chẳng ai có thể hiện hữu bên ngoài thân xác. Không thể có chuyện thân xác ở một nơi, nhưng “người đó” lại ở chỗ khác. Con người hiện hữu trong chính thân xác của mình.

Do ảnh hưởng của nhiều phong trào triết học thời xưa, nhiều người vẫn còn tin rằng thân xác là cái cầm tù con người. Họ mường tượng ra hình ảnh linh hồn ở trên trời tìm kiếm một thân xác nào đó rồi “nhập vào” hoặc bị “đày” vào, khiến cho nó cử động. Bởi thế, chính cái thân xác hữu hình này đã kiềm kẹp, không cho linh hồn được giải thoát để đi về miền tiêu diêu cực lạc, vui hưởng trạng thái hạnh phúc thiên thu. Vì thân xác vốn giới hạn, nên nó cũng chịu sự chi phối của không gian và thời gian. Nó sẽ trở nên tiều tuỵ, già yếu, mang lấy những tật bệnh. Nó mang vào trong con người những phiền sầu khổ ải. Nó làm cho con người mệt mỏi bởi những hành vi nó làm. Nó bắt con người phải chịu số phận hư nát của nó… Bởi quan niệm như vậy, người ta hạ thấp thân xác, khinh thường nó, xem nó như là kẻ thù. Họ hành xác, làm cho mình bị thương như một hình thức tu luyện. Có nhiều người còn tự kết liễu cuộc đời mình để giải thoát cho linh hồn, giúp linh hồn không còn chịu sự kiềm kẹp của thể xác…

Rõ ràng, đây là một quan niệm hết sức sai lầm. “Thân xác” không tách khỏi “con người”. Đúng ra mà nói, thân xác chính “là” con người. Khi cánh tay tôi đau, là tôi đau. Khi cái chân tôi đau, là tôi đau. Chẳng có một sự phân biệt nào giữa thân xác tôi với tôi cả. Con người tôi được phô bày ra trong thế giới này qua thân xác mà Trời ban cho qua bố mẹ. Khi thân xác này chết, chính là tôi chết. Giáo Hội vẫn dạy rằng con người có xác và hồn. Nhưng không nên hiểu lời dạy này theo nghĩa đây là hai phần riêng biệt và chẳng dính dáng gì với nhau như kiểu xác là chiếc bình, còn hồn là nước nằm trong chiếc bình ấy. Con người là sự kết hợp tinh tuý giữa “cái mà ta thấy” (tức là thân xác) với “cái mà ta không thấy” (linh hồn). Con người vừa mang giá trị hữu hình vừa vô hình, vừa vật chất vừa tinh thần, vừa thể chất vừa thiêng liêng. Như thế, ngay chính nơi thân xác con người đã mang một giá trị cao quý đến nỗi nếu không có thân xác, con người chẳng còn là con người nữa.

Chẳng cần gì ai dạy bảo, tự bản thân chúng ta đều nhận thấy phải biết yêu lấy mình. Chẳng ai trong chúng ta nỡ làm mình đau. Phản xạ tự nhiên của chúng ta là cố gắng mưu cầu sự thoải mái cho thân xác mình. Ai cũng mong mình có một thân xác đẹp và hoàn hảo. Ai cũng thích được khen là có cơ thể đẹp, khuôn mặt xinh xắn dễ thương. Tạo Hoá đã đặt để trong chúng ta một bản năng sinh tồn, để khi đói, ta biết kiếm gì đó ăn, khi khát, ta biết kiếm gì đó uống, khi bệnh tật, biết uống thuốc, giữ ấm… Chăm sóc tốt cho bản thân là một thiên hướng căn cốt đã được khắc sâu vào trong mỗi người. Kinh Thánh còn cho chúng ta biết giá trị cao quý của thân xác khi nói rằng thân xác chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Người ta sẽ nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa qua thân xác con người. Thân xác con người là báu vật của Tạo Hoá. Chính Thiên Chúa đã khẳng định lại giá trị của thân xác con người khi mặc lấy nó để trở thành một con người thật sự: biết no đủ, biết đói khát, biết khoẻ, biết mệt, biết đau và có thể chết. Thân xác của con người là chính con người ấy. Đó là lý do vì sao chúng ta luôn tôn trọng thân xác của người đã qua đời. Tự nơi đó, ta thấy toát lên một nét linh thiêng khiến chúng ta phải tôn trọng và, phần nào đó, phải khiếp sợ.

Chính nơi thân xác mà ta được trải nghiệm tất cả mọi chuyện nhân tình thế thái ở thế giới hữu hình này. Đặc biệt, nhờ có thân xác, ta thấy mình có tương quan với người khác. Thân xác của con người không chỉ là cấu thành của những yếu tố sinh học, nhưng còn là nơi để con người phô bày ra những gì bên trong. Chúng ta không thể có tương quan với “một cái gì đó” trừu tượng, mông lung. Và trong bất kỳ một tương quan nào, chúng ta cũng cần những cái đụng chạm, gặp gỡ, nghe tiếng… Những giác quan trên thân xác này là những kênh truyền để con người mình – vốn là một huyền nhiệm – bắt nhịp với những con người khác – cũng là huyền nhiệm. Khi tương quan trở nên gần gũi và khăng khít hơn thì nó cũng đòi hỏi một sự gần gũi về mặt thân xác. Ban đầu là những cái bắt tay, sau đó là những cái ôm, hôn… và đỉnh cao để thể hiện một tương quan sâu sắc nhất – tình yêu nam nữ – là sự dâng hiến cả thân xác cho nhau. Khi yêu, dĩ nhiên là người ta dành cho nhau tất cả, và không chỉ yêu “trên tinh thần”, yêu bằng linh hồn. Một cách tự nhiên, khi yêu ai thật lòng, ta không ngại ngùng trao dâng cho họ thân xác.

Chúng ta thể hiện tình yêu của mình cho người khác qua những cử chỉ của thân xác. Những cái vuốt ve chính là cái thể hiện việc mình đang hưởng nếm nét đẹp của thân xác của người đó. Những cái ôm là dấu chỉ của việc mở ra, đón người đó vào lòng và giữ chặt họ gần trái tim mình. Những cái hôn là để trao gửi trọn vẹn yêu thương chất chứa trong tim. Và khi quan hệ tình dục, người ta thể hiện ước muốn thuộc trọn về nhau. Bởi thế, tính dục của con người khác với những loài động vật khác. Trong khi những loài kia chỉ nhắm đến việc thoả mãn hay sinh sản, thì con người còn gửi gắm vào đó một yếu tố tuyệt vời khác: tình yêu. Con người không thể quan hệ tình dục bừa bãi, vì việc quan hệ tình dục hàm chứa một ý nghĩa rất sâu xa, thậm chí là rất linh thánh.

Làm hại thân xác, xúc phạm thân xác, làm nhục thân xác mình chính là làm điều có lỗi với Tạo Hoá. Thân xác con người được dựng nên là để chuyển tải tình yêu và chỉ được dùng để hướng đến tình yêu. Phải biết trân quý thân xác mình, nhận thức rằng thân xác ấy là nơi Thiên Chúa ngự trị, và được thánh hoá bằng ân sủng của Thánh Thần, thì con người mới có thể sống giới tính của mình một cách trưởng thành và đúng đắn.

***

Con người – Loài có tương quan

Người ta sẽ hiểu hơn ý nghĩa của tương quan khi trải nghiệm cảm giác cô đơn. Đó là khi bỗng dưng người ta thích nghe một bản nhạc buồn, xách xe dạo qua những con phố, cứ chạy tới chạy lui mà chẳng biết đi đâu. Thấy người ta cười nói mà chạnh lòng. Thấy đôi tình nhân ôm nhau mà mình thì cô đơn. Cố tìm một nơi thanh tịnh, chỉ có gió với mây để mong xua đi những nỗi trống vắng trong lòng. Tự nhủ rằng thôi thì mình tự tìm niềm vui cho mình, nhưng thật lòng họ chẳng biết tìm ở đâu, phải làm gì để được vui. Cảm thấy mình lạc lõng, không tìm thấy ai đồng điệu để chia sẻ buồn vui. Ngày hai mươi bốn tiếng trôi qua chỉ với những công việc phải làm. Thế giới đông người thế, nhưng tất cả đều xa lạ với mình. Cuộc đời tươi đẹp thế mà dường như dành cho ai khác, chứ không phải họ.

Sự cô đơn giúp ta hiểu được tính cá vị của bản thân và ý nghĩa tương quan trong cuộc sống. Khi cô đơn, ta chợt nhận ra rằng trên đời này chỉ có mình ta là ta. Không ai có thể “là” ta được cả. Nếu có một ai đó giống ta hoàn toàn, thì người đó cũng chỉ “giống” ta thôi, chứ không phải “là” ta. Cả những người có máu huyết với ta cũng không thể “là” ta. Chẳng ai khác có thể thay thế được ta. Chẳng có một bản sao nào của ta tồn tại. Dù ta tốt xấu, giỏi dở hay thế nào đi chăng nữa, ta vẫn là một cá thể độc lập và duy nhất từ xưa đến nay cũng như mãi về sau này. Ta chết đi, thế giới này sẽ mất đi một cái gì đó. Nhưng sự cô đơn giúp ta phân biệt mình với người khác ở bên ngoài kia, độc lập với ta, đập vào trong tư duy của ta một ý thức rằng giữa ta và họ có một sự phân biệt nào đó. Ta nhận ra mình không giống họ. Họ ở bên ngoài ta, là kẻ xa lạ với ta, giữa ta và họ có một khoảng cách, mỗi bên có ranh giới riêng của mình. Ta sẽ chẳng bao giờ có thể trở thành họ và họ cũng như vậy đối với ta. Ta sẽ chẳng biết mình là ai, nếu không có một người khác đứng đối diện với ta. Ta cũng sẽ không có ý thức gì về mình nếu giữa thế giới này chỉ có một mình ta trơ trọi.Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người một đặc tính “bất khả thay thế”, nhưng Ngài cũng đặt giữa con người một sợi dây tình thân để nối kết họ lại. Bất cứ khi nào sợi dây tình thân ấy được chúng ta vun đắp, dựng xây để có được sự hài hòa, con người sẽ mỗi ngày triển nở hơn và hưởng nếm hạnh phúc.

Hiện diện giữa dòng đời này, ta được Tạo Hóa đặt vào một mớ chằng chịt những mối liên hệ với người khác. Chẳng ai có thể đếm được số lượng tương quan ta có với người khác, bởi vì chúng là vô cùng vô hạn. Trong số những “người khác” ấy, Trời chọn cho ta một hay một vài con người để ta đặt để ở một vị trí cao hơn, ưu tiên hơn trong con tim. Ta xếp họ ở gần mình hơn, chẳng hiểu vì sao, nhưng họ là người mang đến cho ta nhiều ấm áp hơn, họ chiếm giữ con người ta nhiều hơn và ta không muốn đánh mất họ chút nào. Ta muốn họ và ta càng ngày càng xích lại gần hơn nữa, bởi chỉ cần một chút xa cách thôi là bao nỗi lo lắng đã ập đến. Ta sợ mất họ, ta sợ sẽ không gặp lại họ, và cuộc đời ta, con người ta cũng từ đó mà mất đi niềm vui. Biết rằng chẳng có gì là mãi mãi, thời gian có thể sẽ làm thay đổi mọi thứ, nhưng ở bên nhau được ngày nào, vui được với nhau phút giây nào, ta cố gắng hết sức để tận hưởng.

Có tương quan là một nhu cầu căn bản của con người. Đó là vì sao ta luôn muốn có người thân bên cạnh, có bạn bè, có người hiểu ta để ta và người đó có thể dành cho nhau sự quan tâm và chăm sóc. Ai trong chúng ta cần một bàn tay, thèm một bờ vai, một cái ôm, một cái hôn, một câu nói nhỏ vào tai. Cần một cái gì đó để đổ vào lòng cho ấm áp. Cần một ai đó ở kề bên để không cảm thấy lạnh lẽo giữa cuộc đời. Cần chút hương vị của đụng chạm để biết là mình có thịt có xương, chứ không phải là những hồn ma vô cảm. Cần có ai đó nghe tôi bằng đôi tai hiền dịu, ai đó nhìn tôi bằng ánh mắt ngọt ngào. Cần một đôi tay vuốt nhẹ làn tóc. Cần người đó đủ sức đưa ta ra khỏi khu rừng u tối cô liêu, giúp ta tìm lại được ánh sáng của ngày mới, nghe tiếng chim ca, tận hưởng làn gió mát, thoả sức ngắm những cánh hoa đẹp. Để mỗi cuối tuần không còn nghe những bản nhạc buồn. Để những ngày lễ không còn chạy chiếc xe trống. Để có thể mỉm cười cùng mọi người và thấy mình là một phần của thế giới xinh tươi.

“Tương quan” không chỉ là sự cận kề về mặt thể lý, nhưng là một sự đồng điệu của hai tâm hồn. Bởi vậy, khi nói đến “tương quan”, ta nói đến một mối liên hệ mật thiết giữa con người với nhau, vì chỉ có con người mới có “tâm hồn”. Con người có thể nuôi một con chó hay con mèo để vui cửa vui nhà. Giữa con người và con vật có thể có chút gắn bó. Nhưng đó không phải là “tương quan” theo đúng nghĩa của nó, bởi lẽ, con vật kia không ngang hàng về mặt phẩm giá với con người, và không thể khoả lấp khoảng trống trong tâm hồn của con người. Vì con người là chóp đỉnh của loài thụ tạo nên chỉ có con người mới có thể đồng vai vế với nhau, và chỉ có con người mới có thể tạo lập với nhau một “tương quan” thật sự, trong ý nghĩa tròn đầy nhất của nó.

Hai chữ “tương quan” cũng nói đến bản chất “mở ra” của con người. Trong khi các loài vật chỉ biết đến sự sinh tồn, thì con người còn biết đến những giá trị cao quý khác. Con người là loài không bao giờ đóng kín trong chính bản thân, nhưng luôn mở ra với người khác, tạo cho người khác một chỗ đứng trong lòng mình. Càng mở ra với nhiều người, con người càng thấy ấm áp, vui vẻ. Càng có tương quan tốt với nhiều người, con người càng thấy mình được đong đầy bởi tình yêu và sức sống như thể đang tiến dần đến sự hoàn hảo. Ngược lại, ai khép mình, không tiếp xúc với người khác, thì chẳng khác nào cây khô, trơ trọi giữa đồng vắng, sống mà như đã chết từ lâu. Tương quan sẽ bổ khuyết vào những chỗ chưa trọn vẹn trong con người. Tương quan là một nhu cầu nhưng cũng là bản chất của con người.

***

Con người có nam và có nữ

Văn hoá Á Đông thường nói đến hai thái cực âm và dương. Nguyên lý âm dương là một nguyên lý tổng thể bao trùm cả trời đất. Ở nơi đâu, ta cũng thấy có hai yếu tố này. Có ngày thì có đêm. Có trên thì có dưới. Có nóng thì có lạnh… Hai yếu tố này luân phiên chuyển vần, bổ túc cho nhau, làm nên sự tuần hoàn của trời đất, khiến cho muôn loài được sinh ra, nảy nở và phát triển. Quan sát trong tự nhiên, ta cũng thấy hai yếu tố này hiện diện nơi các loài thực vật, động vật. Loài nào cũng có đực và cái. Ngay cả khi là lưỡng tính, nó cũng mang hai yếu tố đó trong mình.

Con người cũng vậy. Chẳng có con người nào tồn tại mà không có giới tính. Con người xuất hiện trước mắt người khác trong hình thái của giới tính. Giới tính không phải là cái gì đó ở ngoài con người nhưng là cái làm nên bản chất của con người. Người ta có thể phẫu thuật để thay đổi giới tính, nhưng đó là “thay đổi” chứ không phải “huỷ bỏ”. Giới tính đi theo con người từ lúc thành hình cho đến suốt cuộc đời và nó sẽ chi phối lối sống, cách hành xử và mọi sự nơi con người ấy. Quả vậy, ngay khi được thụ tinh trong lòng mẹ, một sự sống đã được ươm mầm và từ từ hình thành một con người với các bộ phận. Từ nhiễm sắc thể trong tinh trùng của bố và trứng của mẹ mà bào thai sẽ phát triển thành “nam” hay “nữ”. Bởi thế, chẳng có con người cách chung chung, nhưng là “người nam” hay “người nữ”. Cả hai cùng là con người, nhưng lại có nhiều điểm khác biệt nhau đáng kể.

Xét ở góc độ sinh học, sự khác nhau được thể hiện rõ ràng nhất nơi cấu trúc của hệ sinh dục. Xét ở góc độ tâm lý, nam và nữ cũng khác nhau về cảm nhận tâm linh, cách hiểu và giải quyết vấn đề, tính tình…

Con người được dựng nên có nam và nữ không phải để chia ra làm hai phe phái đối nghịch, nhưng là để bổ túc cho nhau. Những gì còn thiếu nơi người nam sẽ được tìm thấy nơi người nữ; những gì chưa đủ nơi người nữ được tìm thấy nơi người nam. Đó là lý do vì sao, khi đến tuổi trưởng thành, người ta thường thấy có sức thu hút từ giới kia. Từ chỗ thích tụ tập với đám bạn để quậy phá, bạn trai bỗng dưng muốn tiếp cận bạn gái để chuyện trò, hỏi han. Từ chỗ chỉ thích cười đùa với nhóm bạn thân, bạn gái tự dưng thấy bị cuốn hút lạ kỳ bởi bạn trai. Thế giới này có cả tỷ người nam và người nữ, nhưng chẳng hiểu sao anh lại phải lòng đúng “người ấy” và ngược lại. Anh ta chỉ thích cô này, chứ không phải cô khác, dù cô đó, khách quan mà nói, có đẹp, giỏi giang và quyến rũ đến cỡ nào. Đây chính là sức hút của tình yêu, một loại tình vô cùng đặc biệt đã làm tốn biết bao giấy mực của nhân loại.

Sách Sáng Thế cũng nói đến thứ tình yêu này khi mô tả về Adam và Eva. Từng ngày trôi qua trong quá trình sáng tạo trời đất, Thiên Chúa đều thấy mọi sự tốt đẹp. Từ những điều vĩ mô đến những sinh vật nhỏ bé lúc nhúc trên mặt đất, đâu đâu cũng biểu hiện nét tinh khôi và tuyệt mỹ đến lạ lùng. Khi dựng nên Ađam, trao cho ông sự sống và quyền bá chủ muôn loài, Thiên Chúa mong muốn ông sẽ có một cuộc sống hạnh phúc và an vui với chim trời gió núi, với mưa sa nắng ngàn. Vậy mà tận sâu trong cõi lòng, ông thấy có cái gì đó chưa trọn vẹn.

Thấu hiểu được nỗi lòng của ông, Thiên Chúa tiếp tục biểu dương uy quyền của mình qua một lối sáng tạo hoàn toàn khác với trước kia. Ngài không phán một lời như đối với các sinh vật khác. Ngài cũng không làm nên một con người nữa giống hệt Adam, hay một cá thể nào đó hoàn toàn tách biệt và chẳng có liên hệ gì với ông. Ngài dựng nên một người phụ nữ từ chiếc xương sườn của Adam, vừa giống nhưng cũng vừa khác với ông. Giống để biểu thị sự ngang hàng, nhưng khác là để bổ túc cho khoảng trống của cả hai. Sau một giấc ngủ say – giấc ngủ của sự chán chường và mệt mỏi, của cô đơn và khô héo trong lòng, Adam tỉnh giấc và thấy xuất hiện trước mắt mình một người khác. Không một loài nào mà ông đã từng thấy trong trời đất có thể sánh ví cùng nàng. Một cô nàng nhỏ bé thế thôi, mà đủ sức làm tim ông gục ngã, đủ sức thay thế cho toàn bộ thế giới ngoài kia. Thiên Chúa hiểu cảm giác mà ông đang trải qua. Thiên Chúa biết rằng ông đã yêu, và Thiên Chúa chúc phúc cho tình yêu lứa đôi ấy.

Khi được nối kết bằng tình yêu, người nam và người nữ tuy là hai nhưng đã trở nên “một xương một thịt”. Họ sẽ bỏ tất cả để đến với nhau, cùng giúp nhau hướng đến hạnh phúc.

***

Giới tính của con người

Chúng ta đã biết rằng con người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm ấy được thể hiện nơi chính thân xác của mình. Nhờ thân xác, chúng ta hiện hữu trong thế giới hữu hình và có tương quan với các loài khác. Loài người xuất hiện trên thế giới này đông vô số kể. Chẳng ai có thể đếm nỗi là đã từng có bao nhiêu con người tồn tại từ thuở khai thiên lập địa đến nay và từ nay đến khi thế mạt. Nhưng dù có đông thế nào, con người cũng chỉ có hai phái: nam hoặc nữ. Phái tính nam hay nữ này được thể hiện cách rõ ràng trên thân xác của mỗi người. Người nam và người nữ có cấu trúc sinh học khác nhau, dẫn đến những sự khác biệt khác về tâm lý, cảm thức thiêng liêng… Chẳng ai sinh ra mà lại không là nam hay nữ, ít ra là về mặt sinh học. Có chăng cũng chỉ là những rối loạn tạm thời; và càng sớm càng tốt, người đó phải điều chỉnh lại để đưa giới tính của mình về một trong hai phái mà Tạo Hoá đã định. Giới tính của con người làm phát sinh trong người đó những xu hướng tính dục. Xu hướng này phải trải qua một giai đoạn phát triển lâu dài.

Về mặt sinh học, sự phát triển tính dục cũng song song với sự phát triển của toàn bộ cơ thể. Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển này có những đặc trưng khác nhau. Giai đoạn từ nhỏ đến vị thành niên có thể được coi là giai đoạn “thinh lặng” của giới tính, và chưa có một biểu hiện rõ ràng và mạnh mẽ nào liên quan đến tính dục. Đến giai đoạn vị thành niên, đây là giai đoạn có những thay đổi lớn xuất hiện. Ở tuổi dậy thì, đứa bé giống như thực hiện một cuộc “thay da đổi thịt”. Cơ quan sinh dục của trẻ bắt đầu giai đoạn chín muồi và có khả năng sinh sản. Song song với nó, đứa trẻ cũng bắt đầu cảm thấy được thu hút bởi người đồng trang lứa thuộc giới khác.

Xét về mặt sinh học, tính dục của con người đã đến mức trưởng thành, nhưng ở phương diện tâm lý và thiêng liêng, nó còn phải trải qua những giai đoạn khác nữa. Ở độ tuổi mới lớn, đứa bé thường trở nên cứng đầu, không thích bị sai bảo, không thích ở gần bố mẹ, nhưng chỉ thích tụ tập với bạn bè. Đứa bé cứ ngỡ mình là anh hùng, là người lớn, thích thể hiện mình, muốn bắt chước các thần tượng. Đứa bé tỏ ra bất cần đời và cho rằng mình chẳng sợ ai. Tệ hại hơn, đứa bé dễ bị xúi giục bởi người khác để làm những chuyện điên rồ. Hoặc không kiềm chế được những thúc đẩy bản năng của tính dục mà làm nên những chuyện đồi bại. Có thể nói, cái còn thiếu nơi đứa bé lúc này chính là một sự ý thức về trách nhiệm dành cho bản thân, gia đình và xã hội. Sự phát triển của tính dục sẽ đi đến đỉnh cao khi nó có thể hội nhất được toàn bộ các phương diện trong đời sống cá nhân, ý thức được giá trị của tính dục như một công cụ để thông truyền chính mình cho người khác, chứ không phải chỉ là để thoả mãn dục vọng. Nói cách khác, khi đạt đến sự trưởng thành về tính dục, người ta không dừng lại ở sự hoàn thiện bản thân, nhưng còn mở ra với người khác, giúp người ta có những hành xử đúng đắn, tôn trọng những giá trị nhân văn cao quý, trong đó, cái cao quý nhất là tình yêu.

Tính dục của con người tuy có sự phân biệt căn bản về mặt sinh học, nhưng còn có những ảnh hưởng đến các chiều kích khác nữa. Ta vẫn thấy có nhiều khác biệt trong cách hành xử của nam và nữ, đến nỗi người ta có thể xem đó là đặc trưng của mỗi phái. Ví dụ, người nam thường lý trí hơn, còn người nữ thì tình cảm hơn; người nam mà uỷ mị sẽ bị coi là “đàn bà”, còn người nữ là cơ bắp quá sẽ bị nói là “đàn ông”… Như thế, tính dục của một người sẽ đi theo người đó suốt cả cuộc đời và làm nên phong cách, lối hành xử, cá tính của người đó. Trong khi con vật chỉ sống tính dục của mình bằng những chi phối của hoc-mon thì con người lại vận dụng bộ não để điều chỉnh tính dục của mình. Như thế, con người không sống tính dục của mình ở một mức độ nông cạn là thoả mãn dục tính, nhưng còn hướng đến chiều sâu của nó là sự tự do và trách nhiệm, giúp mình mở ra với người khác, hướng đến tình yêu, tạo thành những tương quan liên vị. Những cử chỉ thân thiết mà đỉnh cao là việc quan hệ tình dục chỉ trở nên ý nghĩa khi nó được thực hiện trong phạm vi của tình yêu, của sự trao hiến cho nhau để giúp cho tình yêu đó được đơm hoa kết trái.

Ngoài ra, do sống trong một tổ chức xã hội, nên tính dục con người cũng chịu sự chi phối của nó. Con người có những ràng buộc về lễ giáo, văn hoá mà họ phải tuân theo. Tình yêu vốn dĩ không có lỗi. Chẳng ai cấm cản hay cho phép mình yêu hay ghét một người nào đó. Nhưng không phải cứ cảm thấy yêu là mặc sức “dâng hiến cho nhau”. Tình yêu cần được xã hội chuẩn nhận, cần phải phù hợp với thuần phong mỹ tục, phải tuân theo ý định của Tạo Hoá thì mới có thể trở nên đẹp và mở ra cho cả hai một tương lai tươi sáng. Người ta càng không được phép lợi dụng chữ “tình yêu” chỉ để thoả mãn cho nhu cầu riêng tư của mình. Cái gì cũng có khuôn khổ của nó. Tính dục và tình yêu là chuyện xuất phát từ nhu cầu của mỗi người, nhưng cũng cần những quy định của xã hội và tôn giáo để giúp nó đi đúng hướng. Đó là lý do vì sao con người, đặc biệt là người trẻ, cần được huấn luyện, đào tạo, dạy dỗ để có được ý thức đúng đắn và những kiến thức hữu ích liên quan đến tình yêu và tính dục của mình.

***

Những tệ nạn ngày nay liên quan đến tính dục

Tính dục là những món quà mà Tạo Hoá dành cho con người. Nó gắn liền với con người và đi theo con người trên suốt hành trình dương thế. Khi tính dục của con người đã phát triển đến một mức độ trưởng thành, nó không còn đóng kín trong chính mình nhưng mời gọi con người mở ra với các cá thể khác, thông chuyển chính mình cho họ. Giữa những cá thể đó, có người mà mình cảm thấy gắn bó hơn hết, tất cả tình yêu, năng động tính dục và trọn vẹn con người mình đều dành cho người đó. Nếu tính dục được định hướng và đi đúng con đường, thì nó sẽ thực thi đúng chức năng mà Tạo Hoá đã đặt định cho nó và từ đó nó sẽ mang đến cho con người hạnh phúc.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy nhan nhản trên các diễn đàn, các phương tiện truyền thông, các mặt báo nói về những vấn nạn liên quan đến tính dục. Ai cũng phải thừa nhận rằng tính dục có một sức tác động rất lớn đối với con người, đặc biệt là những người trẻ, những người chưa đủ hiểu biết về nó cũng như những người chưa biết uốn nắn nó đúng cách. Những lệch lạc trong việc sử dụng tính dục đã kéo theo biết bao tệ nạn: nữ sinh có thai, nạo phá thai, sinh con ra rồi bỏ rơi, ngoại tình, lừa dối, ấu dâm,… Chúng ta không thể không đối diện với một thực tại đáng buồn là ngày nay, dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như những luồng tư tưởng quá cởi mở, người ta đã đánh mất đi ý nghĩa của tính dục, để rồi dẫn đến những điều tệ hại không ai muốn.

Trước hết, phải nói đến tình trạng sử dụng tình dục chỉ để thoả mãn cho bản thân. Khi đến tuổi trưởng thành, cơ thể sẽ có nhiều thay đổi, một trong số đó là cơ quan sinh dục. Khi người phụ nữ có kinh nguyệt lần đầu tiên, và người nam xuất hiện mộng tinh, đó là dấu chỉ cho thấy cơ quan sinh dục đã có thể thực hiện chức năng sinh sản của mình. Song song đó, cơ thể cũng tiết ra những hoocmon làm cho con người nghĩ về tính dục. Người trẻ tò mò về cơ thể của mình, thấy có những biến đổi thì vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì biết là mình đã trở thành người lớn. Còn lo vì không biết “chuyện gì xảy ra vậy”. Tính dục cũng mang đến cho con người một khoái cảm khác lạ, làm người ta như được cất lên chín tầng trời. Từ đó, những xung động này của tính dục cứ thúc bách chủ thể đi tìm khoái lạc cho bản thân qua nhiều cách thức khác nhau. Những xung động này có đôi khi mạnh đến nỗi vượt quá khả năng kiểm soát của lý trí. Dù có khi rất mặc cảm, nhưng họ vẫn không thể cưỡng lại được.

Để tìm thoả mãn cho bản thân, người trẻ thường sẽ tìm đến với những sách báo hay phim ảnh khiêu dâm. Những bài học ở trường lớp nhiều khi vẫn chưa đủ. Thanh thiếu niên, do bị thúc đẩy bởi sự tò mò, nên tự mình hoặc cùng vài đứa bạn thân tìm kiếm những gì liên quan đến tính dục để biết. Những hình ảnh “thiếu vải” hay nóng bỏng thường gây sự chú ý với họ hơn. Họ không những tò mò về cơ thể của bản thân, nhưng còn cơ thể của phái kia. Từ thúc đẩy muốn hiểu biết thêm, họ đã dần dần bị lôi đi xa hơn, chệch hướng, tìm kiếm những âm thanh hình ảnh để thoả mãn cho giác quan của mình. Những thước phim khiêu dâm dường như đã tràn ngập trên thị trường và không quá khó để các bạn trẻ tìm đến. Từ những gì nhìn thấy và nghe thấy, họ càng cảm thấy bị kích động và muốn “bắt chước” y như vậy, hoặc tự mình qua hình thức thủ dâm, hoặc kiếm một ai đó.

Ngày trước, chuyện liên quan đến tính dục là chuyện riêng tư, kín kẽ, chẳng ai dám đề cập tới. Phạm một lỗi liên quan đến tính dục thì cũng giống như phạm một tội nặng trời không dung đất không tha. Nhưng não trạng của con người đã trở nên khác trong thời đại này. Đã đành, không nên nhìn về tính dục như một cái gì đó xấu xa, nhưng nhìn về nó với một thái độ quá thoáng cũng là điều không tốt. Bởi thế, còn có một tệ nạn khác liên quan đến tính dục là người ta đã có một cái nhìn quá tự do về nó. Người ta có thể nói về nó bằng những lời lẽ thô tục cách công khai mà chẳng ngại ngùng gì. Người ta xem nó chỉ đơn thuần là một nhu cầu, hệt như khi đói thì ăn, khi khát thì uống. Nhưng người ta quên mất rằng đòi hỏi tính dục không giống như chuyện ăn và uống. Ăn và uống là những nhu cầu gắn liền với sự sống còn, tự bản thân nó không mang giá trị luân lý. Còn tính dục thì gắn liền với trách nhiệm và tự do. Ngoài ra, con người cũng không giống các loài động vật khác. Các loài khác thoả mãn nhu cầu tính dục của mình khi “đến mùa giao phối”. Con người còn bị chi phối lương tâm và lý trí, chứ không hoạt động “theo mùa” hay chỉ theo bản năng. Cái gì cũng cần được đặt trong khuôn khổ của nó. Cơ quan sinh dục không giống như cái tay hay cái chân. Nó có một ý nghĩa sâu xa và quý giá hơn rất nhiều.

Từ lối nhìn quá tự do trong những vấn đề liên quan đến tính dục, người ta bắt đầu xem nó như một món hàng, kẻ bán người mua, có cung có cầu, đáp ứng đòi hỏi của nhau. Nhiều mảnh đời của biết thiếu nữ đã bị vùi dập bởi tư tưởng này. Ngày nay, cả đàn ông cũng hành nghề buôn bán thân xác mình để kiếm sống. Khi xem tính dục như món hàng, người ta đã đánh mất đi ý nghĩa đích thực của nó cũng như của việc quan hệ tình dục. Chung quy lại, tư tưởng này cũng xuất phát từ thái độ ích kỷ “chỉ tìm thoả mãn cho bản thân”. Tính dục đúng nghĩa là một sự trao hiến, cho đi và nhận lại của cả con người. Khi hai người quan hệ tình dục với nhau, họ dành cho nhau tình yêu, thể hiện khao khát muốn trở nên một, và từ sự kết hợp này, họ hướng đến những mầm sống mới, là hoa trái của tình yêu tươi đẹp này. Tính dục không phải là món hàng, nó là ân ban của Tạo Hoá.

Từ những lối suy nghĩ trên, giới trẻ ngày nay cũng “phát kiến” ra một điều mới lạ khác, mới nghe xem ra có vẻ hợp lý nhưng chính nó cũng là ngọn nguồn của mọi rắc rối và đau khổ: sống thử. Chưa là vợ chồng, nhưng họ đã sống như vợ chồng, từ việc chia sẻ cơm ăn nước uống, đến chuyện chăn gối phòng the. Họ cho rằng cần phải “thử” trước, để biết có hợp hay không rồi mới sống “thật”. Hình thức sống thử này cũng giúp giải quyết những vấn đề liên quan đến pháp luật: họ không phải mất tiền đăng ký kết hôn, tổ chức lễ cưới và nếu chia tay thì cũng không mất nhiều thời gian. Cách nào đó, họ đã mang tính dục ra khỏi khuôn khổ của hôn nhân, ra khỏi sự thừa nhận của gia đình, truyền thống lễ giáo và pháp luật. Họ tưởng rằng như thế thì mình sẽ tự do hơn, nhưng thật ra họ đang tự đặt mình vào thế bấp bênh hơn, vì chẳng có gì đảm bảo cho hạnh phúc và sự lâu bền trong tương quan giữa hai người cả. Nhiều cô gái đã bị lừa gạt. Phần lớn trong số các cặp sống thử cũng không tồn tại lâu dài. Có thai ngoài ý muốn, phá thai, bị bỏ rơi… cũng từ lối sống này mà ra.

Hơn bao giờ hết, người trẻ cần ý thức rõ về tính dục của bản thân mình. Hiểu rõ rồi, họ mới có thể sử dụng nó cách đúng đắn và hướng nó vào khuôn khổ để giúp mình được triển nở. Tính dục chỉ có thể thực hiện đúng chức năng của mình khi được đặt trong tình yêu.

***

Vào đời và trải nghiệm tình yêu

Vào đời? Vào đời là vào đâu? Chẳng phải ngay lúc này đây, ta đã sống trong cuộc đời rồi sao? Có nhiều khi ta nghe nói đến chữ “vào đời”, nhưng ta cứ mãi bâng quơ nghĩ ngợi, vì khái niệm ấy thật trừu tượng và mơ hồ. Quả vậy, có một thế giới hữu hình chung cho tất cả mọi người. Nhưng dường như không phải cứ có mặt trong sự hiện hữu là ta đã đi vào trọn vẹn trong cuộc sống. Giai đoạn lúc ta thụ thai trong lòng mẹ, khác với lúc ta chào đời. Khoảng thời gian ta còn nằm ngọ ngậy bú sữa mẹ, khác với lúc ta chập chững bước đi. Lúc ta có thể chạy nhảy tung tăng, khác với lúc ta có thể tự mình tạo lập sự nghiệp cho mình. Dòng thời gian trôi qua có tác dụng như một lực đẩy, đẩy ta đi vào từng ngưỡng cửa mới. Nơi từng chặng đường, trí óc ta mở ra thêm, nhãn quan ta thấy được nhiều thứ hơn. Rồi đến một lúc nào đó, ta được dẫn vào cánh cửa cuối cùng. Đàng sau cánh cửa ấy là cái mà ta gọi là “đời”, nơi mà ta sẽ phải tự đứng trên đôi chân của mình, phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm, phải bắt đầu dựng xây cho mình một thế giới riêng. Vào đời, chính là vào nơi ấy.

Chúng ta thường có những cung bậc cảm xúc khác nhau mỗi khi bước vào giai đoạn chuyển tiếp nào đấy. Có thể vui, có thể tiếc, có thể sợ. Vui vì ta háo hức đón nhận những điều mới đang chào đón; vui hệt như một em bé chờ mẹ đi chợ về để nhận cái bánh hay cái kẹo mẹ mua cho. Nhưng đâu đó, lòng ta vẫn gợi lên một chút nuối tiếc. Bởi lẽ, từ nay, ta phải bỏ lại đàng sau tất cả những kỷ niệm đẹp. Ta không còn được hưởng nếm mọi thứ một cách “hiển nhiên” nữa. Ngày xưa, cứ mỗi khi đói, ta chỉ cần khóc là mẹ sẽ cho ăn; cứ mỗi lần cần tiền đóng học phí, ta chỉ cần ngửa tay xin bố là được. Giờ đây, mọi đặc ân ấy không còn nữa. Ta phải tự chăm lo cho mình. Nhớ lại thời còn bé, ta có thể vô tư cùng bạn bè đi chơi, tụ tập ăn uống, “buôn dưa lê”… Giờ đây, bạn bè mỗi đứa một hướng, ai cũng phải bận tâm lo cho tương lai của mình, cả ta cũng chẳng còn thì giờ và hứng thú cho những chuyện ấy. Và có đôi khi ta cảm thấy sợ, vì ta không biết mình có đủ sức đối đầu với những gì sắp xảy đến không, mình phải tập đảm nhận cuộc đời của mình ra sao, chuyện gì xảy ra nếu như mình không thích nghi được.

“Cuộc đời” đúng thật là chốn phức tạp với muôn vẻ muôn màu. Nó là “đời” chứ không phải là “thiên đàng”. Nơi đó có rất nhiều điều thú vị, nhưng cũng không thiếu những khó khăn. Một thoáng nào đấy, ta cảm thấy tự hào về mình vì giờ đây, mình không còn là một “đứa con nít” nữa, mình đã lớn rồi, không ai được quyền khinh thường mình nữa. Nhưng cuộc đời chẳng quan tâm đến điều ấy. Nó sẽ cho ta thấy là mình đã thật sự trưởng thành chưa khi vác lấy biết bao trách nhiệm và thách đố. Ta phải kiếm việc làm và phải làm việc đàng hoàng để có tiền chu cấp cho bản thân. Ta phải kiếm chỗ ở, phải tự đi chợ nấu nướng, phải tự lo cho sức khỏe… Sẽ chẳng có ai quản lý ta nữa, ta phải tự chủ trong giờ giấc, trong các mối tương quan, trong cách hành xử với người khác. Xã hội sẽ chẳng tha cho ta nếu như ta làm điều gì đó sai trái. Người khác cũng chẳng nể vị ta nếu ta không sống công tâm và chính trực. Bươn chải giữa dòng đời, ta phải sử dụng tất cả mọi nguồn sinh lực ta có. Điều đó khiến ta mệt mỏi, vì đầu óc lúc nào cũng phải lo nghĩ, tính toán, cân đo. Khi đã chính thức vào đời, tìm được một giây phút thảnh thơi chẳng phải là điều dễ.

Bước vào đời cũng hệt như bước vào một cuộc chiến, một cuộc chạy đua. Vận may có thể là một trợ giúp to lớn, nhưng nó không nằm trong tầm kiểm soát của ta. Cứ sự thường, ai có tài có sức dẻo dai thì sẽ là người chiến thắng. Ai sống có đức thì sẽ được mến yêu. Nhưng cái tài cái đức không tự nhiên mà có. Nó cần được bồi đắp và trui rèn tại thao trường. Bởi thế, người nào chịu đổ nhiều mồ hôi để chuẩn bị cho mình một hành trang tốt thì sẽ khảng khái và tự tin thực hiện lộ trình vào đời hơn. Người ấy sẽ có đủ sức đối đấu với tất cả những phong sương vì đã có trong tay những “bửu bối” cần thiết. Ta được đưa vào cuộc đời, không phải là chuyện tình cờ và duyên số vô định nhưng là ta được trao ban cho một sứ mạng, đưa tay ra để cùng chung xây thế giới. Ta là một phần của thế giới và sự hiện hữu của ta giữa cuộc đời góp phần làm nên thế giới ấy.

Khi đã lớn khôn và bước vào cuộc đời, ta sẽ trải nghiệm được một thứ tình cảm rất lạ và rất khác. Nó được gọi là tình yêu. Vốn dĩ người ta chẳng thể nào hiểu được tình yêu. Tình yêu là gì, nó từ đâu đến, làm sao để có được nó, làm sao để xoá bỏ nó ra khỏi tâm trí mình… Đó là những câu hỏi mà muôn đời sẽ chẳng bao giờ ta tìm được một câu trả lời thoả đáng. Cũng từ một chữ “yêu” này mà mọi cái trong đời sống của ta bỗng dưng thay đổi cách chóng mặt. Cuộc sống thời thơ bé của ta thật bình yên giản dị. Năm tháng trôi qua nhẹ nhàng với những kỷ niệm ngọt ngào có phần thơ ngây. Tâm trí ta trong sáng, chẳng mảy may bị vẩn đục bởi điều chi; cõi lòng ta thanh thản, chẳng bị vây bám bởi bất cứ một nỗi niềm hay dòng cảm xúc nhuốm buồn nào. Mọi cái đến và đi cách mau chóng và ta có cảm tưởng như từng biến cố trong cuộc sống trôi qua đời ta như một con nước bập bềnh lui dần về nơi mất hút. Cái êm đềm nó của tuổi thơ, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên bị chặn đứng lại. Mọi cái trong ta bắt đầu rối tung lên, có khi làm ta thăng tiến, có lúc làm đảo lộn mọi thứ. Ấy là lúc lòng ta biết cảm thấy trống vắng và bất chợt đâu đó, hình dáng của chữ “yêu” thấp thoáng hiện đến trong những lúc ngồi ngẩn ngơ.

Khoảng thời gian đắm chìm trong tình yêu là lúc mà người ta thấy mình trở nên mạnh mẽ vô cùng. Quảng đường xa, gập ghềnh mưa gió, sóng to biển cả… tất cả những trở ngại của không gian và thời gian đều trở nên vô nghĩa. Tình yêu trao ban cho người ta sức mạnh để trèo lên non cao, vượt qua vực thẳm. Nắm tay nhau bước đi trong cơn mưa, đối với người khác là một sự điên khùng, còn đối với người đang yêu lại là một điều kỳ diệu. Khi đã chìm trong tình yêu, mọi cái chung quanh đều trở nên đẹp đẽ, cho dù thực tế, chúng chẳng có gì đáng để lưu tâm. Đã yêu nhau rồi, người ta chẳng sợ điều gì, chẳng ngại điều chi, vì trước mắt họ luôn là một màu hồng thắm tươi. Có rất nhiều bờ vai trên cõi đời này, nhưng chỉ có một bờ vai có thể làm ta cảm thấy thanh thản. Có cả tỷ tỷ đôi bàn tay trên thế giới này, nhưng chỉ có một bàn tay khi chạm vào ta là chạm vào tận thâm sâu cõi lòng, khơi lên nơi đó ngọn lửa sưởi ấm thật diệu kỳ.

Nhưng cũng chính khi yêu là lúc người ta cảm thấy mình yếu đuối nhất. Ta thấy mình không cưỡng lại được sức lôi kéo của đối phương, không thể gạt đi được nỗi nhớ, không thể cho phép mình không nghĩ đến người ta. Ta bắt đầu biết nhỏ những giọt nước mắt buồn tủi. Ta cảm thấy sợ khi nghĩ đến một ngày ta và người ấy trở thành hai kẻ xa lạ. Bấy lâu nay, ta vẫn rất ngang tàng ương bướng, nhưng trước mặt người kia, ta hiền từ, nhẹ nhàng và thân thiện đến lạ kỳ. Ta có thể không sợ mình đau, nhưng ta chẳng thể chịu nỗi khi người mình yêu gặp một điều gì đó bất trắc. Ta thà là mình chịu khổ, còn hơn thấy người kia không vui. Đối với ta, người kia là tất cả. Ta trao cho người đó quyền làm chủ trên ta, quyền làm ta vui, quyền làm ta đau nhói. Phải, yêu là biến mình trở nên nhỏ bé, là tự đặt mình vào vị thế khiêm nhường, là bắt đầu biết cảm thấy mình cần đến người ta, là mở lòng mình ra để đưa người kia vào trong tim, nơi ta ấm ủ những mộng ước, những giấc mơ, những khao khát.

Bước vào đời và bắt gặp được một tình yêu đẹp dành cho mình là hồng phúc lớn lao mà Tạo Hoá dành cho mình.

***

Tình yêu và những hiểu lầm

Khi đạt đến một độ tuổi nhất định, con người bắt đầu có cảm giác yêu. Đó là một sự cuốn hút, lôi kéo toàn bộ tâm trí và con người của ta hướng về một đối tượng khác. Có nhiều loại tình yêu tồn tại trên đời này, nhưng tình yêu nam nữ là mạnh mẽ nhất, đến độ “người ta phải lìa bỏ tất cả để gắn bó với người mình yêu.” Tình yêu làm cho người ta trở nên trọn vẹn, bổ khuyết cho những nỗi “trống vắng hiện sinh” trong mình. Có được tình yêu này, cũng giống như tìm thấy “một nửa” của cuộc đời. Tình yêu này vốn dĩ rất tuyệt đẹp. Nó đã đi vào trong các áng văn thơ, âm nhạc, cũng như tất cả các loại hình nghệ thuật. Khi tình yêu xuất hiện, các hình thức nghệ thuật trở nên thu hút hơn, lôi cuốn hơn và đẹp hơn.

Yêu và được yêu là một nhu cầu căn bản của con người. Không ai có thể cấm người khác yêu. Bản thân mình cũng không thể làm chủ cảm xúc của mình, muốn mình yêu người này hay yêu người kia, ghét người này hay thương người nọ. Và khi được người yêu mình trao gửi trở lại một tình yêu, ta như trở thành người hạnh phúc nhất trên hành tinh này. Thế nhưng, con người – đặc biệt là giới trẻ ngày nay – đôi khi có chút hiểu lầm liên quan đến nó. Khi hiểu sai về tình yêu, người ta trở thành kẻ mù quáng, có những hành vi sai trái và dần dần đánh mất đi chính mình. Hoặc có khi, do có cách hiểu sai về tình yêu, người ta không biết cách làm cho nó triển nở để làm thăng hoa cuộc sống của cả mình và người khác.

Người ta thường lẫn lộn tình yêu với cảm xúc. Cảm xúc là một phần của tình yêu, nhưng nó không phải là tình yêu. Khi yêu, người ta có những cảm giác nhớ, thương, giận, mong, tủi, ghen… Nhưng tất cả những điều này chỉ là cảm xúc phát ra từ con người mình chứ chưa hẳn là tình yêu. Các bạn trẻ thường hay thần tượng một ai đó, có thể là ca sĩ, diễn viên, một người có những tài năng hay đức hạnh mà mình cảm thấy ngưỡng mộ. Ở độ tuổi mới lớn, bạn trẻ cũng có thể thấy “thích thích” một người khác phái ở lớp học hay ở chung khu phố, xóm làng… Những cảm xúc khi thần tượng hay thích thích này cũng có nét gần gần như khi yêu. Tuy nhiên, phải hết sức cẩn thận, đừng lầm lẫn tình yêu với cảm xúc. Thật không dễ để phân biệt hai phạm trù này. Có thế nói: cảm xúc là cái toả ra bên ngoài với những nét đẹp và quyến rũ cuốn hút ta, còn tình yêu là cái cốt lõi bên trong. Tình yêu không chỉ là nhớ là thương, nó còn bao gồm cả trách nhiệm và một thái độ muốn trao ban tất cả để cùng người kia đắp xây một tổ ấm. Nó sẽ được lộ rõ hoặc được tôi luyện khi trải qua những khó khăn, phong ba, thử thách của cuộc sống và thời gian. Vượt qua trăm ngàn bể dâu, khi không còn cảm thấy lâng lâng của cảm xúc vây cuốn, mà người ta vẫn thấy không thể sống mà thiếu nhau, đó gọi là tình yêu!

Giới trẻ ngày nay du nhập một thái độ gọi là yêu chơi. Xét về bản chất, nếu đã yêu thật lòng thì chẳng thể nào gọi là chơi. Còn nếu chỉ là chơi, thì đó không phải là yêu, theo đúng nghĩa của nó. Do hiểu lầm tình yêu chỉ là cảm xúc, và mình có thể gán ghép tình yêu vào mình và vào người khác, nên các bạn trẻ cứ nghiễm nhiên “tìm người ghép cặp” với nhau và gọi đó là tình yêu. Ở độ tuổi mới lớn, ai cũng muốn mình có người yêu. Khi có người yêu, người ta cảm thấy có chút hãnh diện về bản thân mình. Có người yêu để ngày lễ tết đi chơi, nhắn tin hẹn hò, đi ăn uống như người khác. Có bạn còn tự hào về bản thân khi “thay người yêu như thay áo”. Càng có nhiều người yêu, họ nghĩ rằng mình càng có giá. Rồi do bị ảnh hưởng bởi những thước phim lãnh mạn, họ cũng có giây phút chia tay, nhớ nhung, đau khổ… Dĩ nhiên, cũng có những tình yêu thật sự nảy sinh ở giai đoạn này, và nếu hai bạn trẻ biết cách trân quý và gìn giữ nó thì rất tuyệt. Nhưng phần lớn các bạn khác chỉ hùa theo trào lưu của xã hội. “Bắt cặp” yêu đương hết người này đến người khác chỉ vì không muốn mất mặt với bạn bè, hay chỉ để tập sống như người lớn. Tệ hơn nữa, họ không nghĩ đến trách nhiệm với bản thân mình và với gia đình, xã hội, nên đã buông mình theo những cám dỗ của tính dục.

Đến đây, ta lại thấy có một sai lầm khác đang rất thịnh hành trong giới trẻ, chính là: lầm lẫn tình dục với tình yêu. Cả tình dục lẫn tình yêu đều là những tặng phẩm quý báu Tạo Hoá ban cho con người. Cũng giống như trong tương quan với cảm xúc, tình yêu cũng có yếu tố tính dục, nhưng chúng không phải là một. Khi yêu, người ta có xu hướng trao ban chính mình cho người khác mà hình thức cao nhất liên quan đến thể lý chính là việc quan hệ tình dục. Nhưng cả điều này cũng phải được đặt trong khuôn khổ của nó, chứ không phải muốn làm gì thì làm. Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng phải quan hệ tình dục với nhau để chứng tỏ tình yêu và niềm tin dành cho nhau. Đây là một lối nghĩ hết sức sai lầm. Các bạn nữ thường cả tin, dễ nghe theo những lời ngon ngọt, rốt cuộc phải gánh lấy hậu quả không tốt cho bản thân, cũng chỉ vì sự lầm lẫn tai hại này. Khi xã hội chuẩn nhận tình yêu giữa hai người, họ cũng chuẩn nhận luôn tình dục giữa họ vì nó là yếu tố tất yếu đi kèm theo tình yêu. Vì thế, điều cần lưu ý là đừng bao giờ đồng hoá tình dục với tình yêu, và đừng bao giờ dùng tình dục như một yếu tố để kiểm chứng tình yêu.

Khi yêu, người ta thường có xu hướng muốn chiếm giữ người mình yêu cho riêng mình. Tình yêu luôn có sự ích kỷ trong đó. Nó không thích bị san sẻ, chia đôi. Cảm giác ghen mà ta có khi yêu chính là một biểu hiện của “sự ích kỷ” này của tình yêu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mình chiếm giữ tình yêu, vây hãm người yêu và cố gắng nắm giữ tình yêu trong bàn tay mình bằng mọi giá. Tình yêu là một không gian mở. Nó giúp hai người cùng thăng tiến, chứ không biến ai thành nô lệ của ai. Tình yêu có được bằng sự chân thành, chứ không bằng thủ đoạn. Tình yêu muốn có sự tự nguyện chứ không thích bị gượng ép. Chính vì thế, đừng bao giờ quyết tâm giành lấy tình yêu bằng những tính toán. Còn khi đã có được nó rồi thì đừng bóp nghẹt nó bằng sự ích kỷ của mình. Người yêu là người thuộc về mình, nhưng người đó còn sống trong xã hội nữa. Đừng bắt người đó phải cắt đứt mọi tương quan, đừng kiểm soát người đó như thể tù nhân của mình. Càng cố chiếm giữ tình yêu, tình yêu sẽ càng trở nên ngột ngạt và chết đi.

Cuối cùng, cũng nên biết rằng tình yêu không phải là cái đã có thì còn mãi. Bản chất của tình yêu là bất diệt, nhưng nó cần được vun trồng, xây đắp, nâng niu. Một chút lôi cuốn ban đầu có thể là mầm mống của tình yêu, nhưng để tình yêu đó thật sự đâm rễ, lớn lên thành cây và sinh hoa trái, cả hai cần phải chăm bón cho nó. Đó có thể là sự quan tâm, hỏi han, hâm nóng kỷ niệm, hy sinh cho nhau, tạo niềm vui cho nhau… Có ai đó đã ví von rằng con đường lâu ngày không đi sẽ có cỏ dại mọc lên, hai người lâu ngày không trò chuyện sẽ trở nên xa lạ lúc nào không biết. Sự tiếp xúc, gặp gỡ, đụng chạm… tuy đơn sơ, giản dị nhưng là yếu tố không thể thiếu để vun đắp tình yêu. Đừng bao giờ ỷ lại vào khả năng chinh phục của mình, cho rằng người kia sẽ không thể sống thiếu mình, để rồi tỏ ra lạnh lùng, kiêu căng. Mọi sự sẽ qua đi, theo thời gian, tất cả đều có thể thay đổi. Tình yêu là cái tuy hiện tại có đó, nhưng chưa chắc còn vào ngày mai.

***

Một tình yêu đúng nghĩa

Một tình yêu đúng nghĩa là một tình yêu xuất phát từ con tim, chứ không phải của những phân tích toán học. Yêu ai là cảm thấy con tim mình bị lôi cuốn về phía người đó, một cách huyền nhiệm đến nỗi không thể diễn tả được bằng bất cứ ngôn từ nào. Chứ chẳng ai ngồi đó lấy các chỉ số, rồi cân đo đong đếm bằng các công thức rồi xác định yêu hay là không. Yêu là tiếng nói của con tim. Nó không cần lý do để yêu, cũng không cần đúng thời đúng buổi để yêu. Yêu là yêu, thế thôi. Chỉ đơn giản là muốn gần nhau, muốn chuyện trò với nhau, muốn được quan tâm, muốn được hỏi han, muốn người ta biết là mình đang quan tâm đến họ, hay đang giận họ… Hơn hết, đó là cảm giác thấy cần nhau đến độ không thể sống mà thiếu nhau. Nó mạnh mẽ hơn tất cả các loại tình khác. Mất đi người đó rồi, cũng hệt như mình mất đi cả sức sống vậy. Bởi vậy, nếu thật sự không thấy có một chút lôi cuốn gì, không hề cảm thấy nhớ nhung, người đó có như thế nào cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mình… thì cần phải coi lại. Có vẻ như ta đang nhầm tưởng là mình đang yêu!

Một tình yêu đích thực thì không có chỗ cho những tính toán. Không có chuyện phải đáp ứng điều kiện rồi mới yêu. Càng không có chuyện yêu mà trao đổi như kiểu mua bán. Tình yêu là vô giá, không gì có thể đo lường được tình yêu. Đừng lấy nhà cửa đất đai, iphone, vàng vòng để chiếm đoạt tình yêu, vì chẳng những không thể có được nó, mà còn làm mất đi vẻ tinh tuyền vốn có của nó nữa. Tình yêu phải xuất phát từ tính vô vị lợi. Yêu ai đó thì chỉ vì chính người đó mà thôi, chứ chẳng phải vì người đó đẹp, giàu, sang, bảnh bao, phong độ, giỏi nấu nướng. Những điều này có thể là yếu tố phụ thêm, nhưng không phải là cái quyết định cho một tình yêu thuần khiết. Chỉ cần có một chút tính toán thôi, tình yêu sẽ trở nên vẩn đục, và bắt đầu nhạt phai. Khi thời gian qua đi, mọi cái bên ngoài cũng qua đi, nên nếu tình yêu đặt nền trên những điều đó thì nó cũng qua đi. Vậy nên, hãy nhớ rằng tình yêu không phải là toán học, nó không được hình thành bằng những con số hay suy lý; sự chân thành của con tim mới là liều thuốc quý của tình yêu.

Trong tình yêu, dù biết là cả hai thuộc về nhau, nhưng cũng cần phải dành cho nhau một sự tôn trọng. Người ta yêu để đong đầy cho nhau, khoả lấp chỗ trống cho nhau, chứ không phải biến nhau thành nô lệ. Dù là của nhau, nhưng mỗi người đều cần có một khoảng trời của riêng mình, với những tương quan gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, sở thích… Đừng vì sự ích kỷ của tình yêu mà kiềm kẹp người yêu như thế đó là sở hữu của riêng mình và không ai được phép động đến. Cũng đừng kiểm soát người kia như một em bé. Sự tôn trọng dành cho nhau cũng bao hàm một sự tin tưởng. Ta tin rằng nếu người kia yêu ta thật lòng thì tự khắc người đó sẽ về với mình, chẳng cần mình phải dùng biện pháp này, thủ đoạn nọ. Ta tin rằng người đó đủ lớn để biết trân trọng những gì đang có và biết cách hành xử sao cho tốt đẹp. Niềm tin đó xuất phát từ một sự hiểu biết rõ ràng và đúng đắn về nhau. Hai người yêu nhau thì hiểu nhau đến tận đường tơ kẽ tóc, biết rõ từng ý nguyện và khao khát của nhau. Bởi thế, họ luôn biết cách hành xử sao cho đối phương được cảm thấy hài lòng và mãn nguyện. Tình yêu của họ ngày thêm ấm nồng chính nhờ điều ấy.

Khi đã biết và hiểu nhau sâu đậm đến vậy, tình yêu thúc bách họ luôn biết hy sinh cho nhau, dành phần hơn cho người mình yêu mến. Trong tình yêu, không có chuyện đòi quyền lợi. Yêu là hy sinh, hy sinh hết mình mà không chờ người ta ghi nhận hay đền đáp. Không có sự sòng phẳng trong một tình yêu đúng nghĩa, rằng tôi làm cho anh thế này, anh phải trả lại tôi thế kia. Hy sinh cũng hệt như việc ta đưa củi vào lò bếp để ngọn lửa được cháy lên. Khúc củi ấy – là ta – phải chịu tiêu hao đi, chịu đau đớn, chịu thiệt thòi, nhưng ta vui lòng chấp nhận vì lợi ích chung của cả hai. Hy sinh là mất mát, nhưng lại là điều cần phải có để duy trì và thăng tiến một tình yêu. Khi người ta không biết nhường nhịn nhau nhưng luôn cố gắng giành quyền lợi cho mình, đó gọi là mua bán, chứ không phải tình yêu. Thật ra, chỉ cần ta yêu thật lòng, ta tự thấy mình phải hy sinh cho người kia mà chẳng cần ai dạy dỗ hay chỉ bảo. Đó là một lực đẩy rất tự nhiên. Đôi khi, ta lại thấy rất vui vì được hy sinh cho người đó. Cái mâu thuẫn của tình yêu là vậy. Bởi thế, nếu ta không cảm thấy mình cần phải hy sinh cho ai đó, chắc có lẽ ta chưa yêu thật lòng.

Một tình yêu khi đến độ trưởng thành thì cũng bao hàm trong đó một sự ý thức và trách nhiệm. Người ta không còn yêu theo kiểu lãng mạn của tuổi học trò, dù rằng những yếu tố ấy vẫn còn để làm tình yêu thêm hương vị. Tình yêu thời áo trắng phượng hồng phần lớn nghiêng về cảm xúc, có chút ngây thơ, hồn nhiên, với những trang giấy ghi vội dòng tỏ tình. Nhưng khi đi vào chiều sâu hơn, người ta cần phải biết mình đang làm gì, và mình phải có trách nhiệm thế nào với tình yêu. Hay nói cách khác, người ta biết nhìn đến tương lai, biết kiềm chế những xung đột và thúc bách nhục dục để vươn tới một viễn cảnh xa hơn. Tình yêu thời cắp sách tuy đẹp nhưng mong manh, thích thì yêu, không thì chia tay. Còn tình yêu ở tuổi trưởng thành phải là một quyết định chung cuộc, chứ không phải là chuyện của sở thích. Đã xác định yêu, thì phải cố gắng vun đắp cho tình yêu, xây dựng nó, tô vẽ cho nó mỗi ngày thêm mặn nồng thắm thiết. Tình yêu đó phải được định hướng để tiến tới một sự kết hiệp hoàn hảo và trọn vẹn trong hôn nhân nếu không có gì ngăn trở.

Cuối cùng, theo như ý định của Tạo Hoá, một tình yêu đúng đắn là một tình yêu giúp nhau thăng tiến. Chẳng ai yêu để rồi trở nên tệ hơn, xấu xa hơn. Một dấu chỉ cho biết ta có đang yêu hay tình yêu của ta có đúng hay không chính là: khi yêu, ta có thấy mình triển nở hơn không, thấy con người ta thanh thoát hơn không, thấy mình yêu đời hơn, phấn chấn hơn, mạnh mẽ hơn, thấy toàn bộ tiềm năng trong con người ta được bộc phát hết không. Nếu không đạt được những điều này, chắc là có một chút trục trặc nào đó mà ta cần phải xem xét hay điều chỉnh lại. Thiên Chúa dựng nên Eva chính là để giúp Adam được triển nở hơn trong sự hiện hữu của mình và ngược lại. Tình yêu thúc đẩy người ta đến với nhau, bổ túc cho nhau những gì còn khiếm khuyết, để nhờ đó mà cùng nhau lớn lên, hướng về cùng đích tuyệt đối là Thiên Chúa. Như thế, ai sống trong tình yêu cách đúng đắn thì cũng giống như cá ở trong nước, chim trên bầu trời, tha hồ vùng vẫy và thưởng ngoạn cuộc sống. Tình yêu – hôn nhân là môi trường để những ai được mời gọi sống trong đó trở nên những vị thánh giữa nhân gian.

***

Xây dựng tình yêu đích thực

Tình yêu là một món quà. Nó đích thực là một món quà vì nó là cái ta nhận lãnh, chứ không phải làm ra. Sự thực là chẳng có ai có thể bằng khả năng của mình mà “làm ra” tình yêu cho riêng mình. Họ chỉ có thể cất công lên đường tìm kiếm, rồi bất chợt một lúc nào đó bắt gặp được mà thôi. Có người đã ví tình yêu như một tên trộm, lẻn vào trong mình lúc nào mình chẳng biết; cho đến khi mình giật mình tỉnh giấc thì phát hiện đã bị đánh mất trái tim. Không một lý trí nào có thể trả lời được câu hỏi là tại sao mình yêu người này mà không phải yêu người khác, tại sao mình lại nhớ và mong chờ người này chứ không phải người nọ, tại sao xuất hiện trong tâm trí mình là người này chứ không phải người kia. Tình yêu là thế. Nó hành động lén lút và tấn công bất ngờ. Khi trái tim đã bị đánh cắp rồi, thì ta chỉ có thể mỉm cười và thừa nhận mình yếu đuối. Nhưng chẳng khi nào ta lại vui khi mình bị mất mát như vậy cả, vì “đánh cắp trái tim” có nghĩa là đổ đầy vào đó thần dược của Thiên Đàng. Nhưng tình yêu không phải là cái một khi đã có là tồn tại mãi. Nó cần được dựng xây bởi cả hai qua từng giây từng phút của cuộc đời. Một tình yêu, dù có đậm sâu mấy, nhưng không được để ý tới, sẽ dần trở nên lạnh nhạt, tan biến, “vỗ cánh bay đi”.

Cần phải biết nâng niu tình yêu, vì như đã nói, nó không phải là cái lãnh nhận một lần cho tất cả. Tình yêu không phải là cái trơ trơ năm này qua tháng khác. Tình yêu hệt như một em bé dễ thương, nằm ngọ ngậy, khóc oe oe, đòi mẹ chăm sóc. Tình yêu hệt như cây non cần được chăm bón, tưới nước, cắt tỉa. Tình yêu cũng như chiếc bình ngọc thạch quý giá, cần được người khác nâng niu, chìu chuộng và thưởng thức nhẹ nhàng. Không chăm sóc cho tình yêu, không nâng niu tình yêu, nó sẽ lụi tàn đi, héo úa đi, chết đi ngay lập tức. Vậy nên, khi đã yêu, ta hãy chăm lo cho tình yêu bằng những lời nói dịu ngọt, bằng sự nâng đỡ chân thành, bằng những quan tâm sâu sắc. Những bữa ăn thân mật, những cánh hoa bất ngờ, những nụ cười nhẹ, cái nắm tay, một nụ hôn truyền sức sống… tất cả đều là những “lương thực” rất tốt để nuôi dưỡng tình yêu.

Trong tình yêu, rất cần sự chung thuỷ và một sự trong sáng dành cho nhau. Một trong những nét tuyệt vời của tình yêu chính là “sự ích kỷ” của nó. Nó không thích bị chia sẻ. Nó muốn một sự trọn vẹn. Chỉ yêu một nửa thì không phải là yêu. Trái tim sẽ không thể chịu đựng nỗi khi bị chia cắt làm hai, làm ba hay làm nhiều phần. Chỉ khi nào người ta trao dâng cho nhau một trái tim nguyên vẹn, trái tim ấy mới giúp cả hai thăng tiến và hưởng nếm hương vị ngọt ngào của tình yêu. Khi đã yêu, ta muốn mình trở thành “nhất” trong mắt người yêu và người yêu của mình cũng có một ước muốn như vậy. Một con tim không thể cùng một lúc trao cho nhiều người được. Khi trao con tim mình cho ai, ta trao cho người ấy trọn vẹn con người mình, không để sót lại điều gì cả. Thế nhưng, có một nghịch lý thường tồn tại trong ta là ta đòi hỏi người yêu mình phải chung thủy với mình, còn mình thì lại buông thả, yêu vô tội vạ. Ta cảm thấy đau khi bị người mình yêu phản bội, nhưng ta chẳng hề nghĩ đến cảm xúc của người khác thì mình phản bội người ta. Ta cao ngạo, cho rằng mình quá tuyệt vời đến độ không thể chỉ dành cho một người, nhưng khi người kia cũng có thái độ như vậy thì ta không chấp nhận được. Ta lồng lộn lên với bao cảm giác tức tối. Để tình yêu được triển nở, ta không được phép chia đôi con tim, không được phép thả lỏng mình chiều theo những cảm xúc thấp hèn. Đó là quy luật mà ta không thể phá bỏ được. Nó đòi hỏi ta phải hy sinh rất nhiều.

Để tình yêu tồn tại, cũng cần một sự tôn trọng lẫn nhau. Dù tình yêu đòi sự độc nhất, nhưng nó cũng không chấp nhận một sự bó buộc hay kiềm kẹp nào. Một tình yêu sẽ chết khi người ta bóp nghẽn nó trong lòng bàn tay, chứ không để cho nó tự do tung tăng bay nhảy. Một tình yêu đích thực thì không làm cho người ta mất tự do, bị tù túng, nhưng làm cho người ta thấy mình được triển nở và thành toàn một cách thật sung mãn. Hãy cố gắng vun đắp và gìn giữ tình yêu, nhưng hãy làm điều đó bằng sự chân thành, bằng con tim nồng ấm, chứ đừng bằng những thủ đoạn và những toan tính đầy ích kỷ và muốn chiếm hữu của ta. Khi một tình yêu được trao ban, nó sẽ tự tìm đường để bắt gặp một tình yêu đồng điệu khác. Ta không cần phải vẽ đường cho nó, không cần lèo lái nó theo ý muốn chủ quan của ta. Lý do là vì lý trí không thể bắt trái tim yêu hay không yêu ai được. Yêu một người, hiển nhiên là mong muốn người ấy thuộc về mình, nhưng không phải là buộc người ấy phải cắt đứt tất cả mọi tương quan và sở thích của người ấy. Yêu một người thì cũng yêu luôn tất cả những thế mạnh và điểm yếu của người ấy. Yêu một người là cùng xây đắp với nhau con đường chung để hai người cùng bước. Yêu một người tuyệt nhiên không phải là đưa người ấy vào trong vòng kiểm soát của mình. Làm như thế, tình yêu sẽ mất đi khoảng không để vùng vẫy. Khi ấy, hoặc là nó sẽ tuột khỏi bàn tay ta, hoặc là nó sẽ vỡ vụn.

Để được như thế, bản thân mỗi bên phải thay đổi chính mình. Phải bỏ đi cái tôi kiêu hãnh. Phải biết hạ mình khiêm tốn. Phải dành cho nhau những hy sinh. Phải biết nghĩ đến người mình yêu mà phấn đấu cải thiện bản thân, biến mình trở nên tốt hơn, tuyệt vời hơn để xứng đáng với tình yêu ấy. Yêu là một lời mời gọi bản thân bước vào một thế giới mới, nơi đó, con người cũ xấu xí và bất xứng của mình phải bị bỏ lại đàng sau. Dĩ nhiên, ta không khoác lên mình một bộ mặt tốt đẹp giả tạo. Ta cũng không thể biến thành một con người hoàn toàn khác. Ta cũng chẳng thể bỏ được những thói hư tật xấu của mình trong một thoáng chốc. Nhưng để tình yêu của mình được lớn lên và đơn hoa kết trái, ta phải biết sửa chữa những gì “chưa được” nơi bản thân, để có thể cùng người mình yêu tiến đến một sự hoà hợp hoàn hảo trong cuộc sống chung của hai người.

***

Những quan điểm sai lầm liên quan đến hôn nhân

Vì hôn nhân rất quan trọng nên ngoài dân luật và giáo luật, hầu như trong tất cả các nền văn hoá ở mỗi thời đại, đều có những tập tục hướng dẫn và chi phối nó. Có những quan niệm trong dân gian, nhờ đúc kết từ kinh nghiệm của các bậc cao nhân, rất giúp ích cho việc chọn lựa người bạn đời, được thể hiện qua các câu tục ngữ, ca dao. Nhưng cũng có những suy nghĩ hơi lạc hậu, nếu không muốn nói là trái ngược với giáo huấn của Giáo Hội. Dĩ nhiên, những suy nghĩ ấy chịu sự chi phối của nền tư tưởng thời đó. Nó có thể được chấp nhận vào thời điểm đó. Nhưng dưới cái nhìn của đức tin, ta cần phải điều chỉnh lại để có một quan điểm đúng đắn hơn liên quan đến hôn nhân và gia đình. Sau đây là một vài ví dụ điển hình.

  1. Lựa chọn bằng những tiêu chí bên ngoài

Người ta thường lựa chọn người bạn đời dựa trên sắc đẹp, tiền tài, danh vọng… Có một người yêu sắc nước hương trời, một người chồng nhà cao cửa rộng… rõ ràng là một niềm kiêu hãnh. Người ta cũng khuyên là hãy lấy một người chồng giàu để có đời sống sung túc, lấy một người vợ đảm đang, biết nấu nướng để cô ta chăm lo cho gia đình… Những điều này là cần thiết, nhưng không phải là yếu tố cốt yếu để làm nên một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Nếu chỉ yêu vì sắc đẹp hay vì tiền tài thì chuyện gì sẽ xảy ra khi người đó già đi hay khi họ gặp phải những thất bại? Lấy người nào có thể đảm bảo được cho mình có chỗ ăn ngủ và tiêu xài vẫn thiết thực hơn một người chẳng có gì trong tay. Suy nghĩ này dường như quá ích kỷ và nặng về vật chất.

Vì hôn nhân được đặt nền trên tình yêu, mà tình yêu lại xuất phát từ con tim, nên để có một cuộc hôn nhân bền vững, cần phải lưu tâm trước hết đến việc mình có yêu người đó không. Dĩ nhiên, chỉ yêu không thôi thì chưa đủ. Cái thời “một túp lều tranh hai trái tim vàng” đã qua đi rồi. “Có thực mới vực được đạo”. Tình yêu phải thúc đẩy hai người đến chỗ đồng cam cộng khổ, cố gắng làm việc để đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần cho cả hai. Như thế, cũng hệt như xây một căn nhà, người ta phải bắt đầu từ nền móng vững chắc trước rồi sau đó mới đến những phần phía trên. Nền móng vững chắc mà hôn nhân cần phải có chính là tình yêu. Không có nó thì dù người ta có sống trong cung vàng điện ngọc, sơn son thiếp vàng thì cũng thấy trống rỗng và cô đơn đến tột cùng.

  1. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó

Người ta quan niệm như vậy xuất phát từ ba lý do chính: thứ nhất, con cái là sở hữu của cha mẹ nên phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, nếu không sẽ bị coi là người bất hiếu; thứ hai, cha mẹ là người có nhiều kinh nghiệm hơn nên sự sắp đặt của cha mẹ sẽ được cho là chuẩn xác hơn và khôn ngoan hơn; thứ ba, việc sắp xếp hôn nhân cho con là trách nhiệm của cha mẹ. Quan niệm này thể hiện một sự vâng lời tuyệt đối của con cái đối với cha mẹ liên quan đến đời sống hôn nhân.

Dù rằng cha mẹ là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm trong chuyện tình yêu và hôn nhân hơn con cái, nhưng chuyện bắt con cái phải nghe theo sự sắp đặt của mình là điều không nên. Nó mâu thuẫn với yếu tố “tự do ưng thuận”, một trong những điều cốt yếu làm nên hôn nhân Kitô giáo, được giáo luật nói đến ở điều 1103. Sẽ không có gì bàn cãi nếu như người con cũng có cùng một ước nguyện giống cha mẹ. Nhưng nếu hai bên có ý muốn khác nhau, thì cha mẹ có thể là người tư vấn cho con, khuyên can con, dành cho con những chỉ bảo, nhưng tuyệt đối không thể là người quyết định hôn nhân thay cho con.

Cha mẹ là người sinh ra con cái, có bổn phận giáo dục và dạy dỗ con cái, nhưng con cái không phải là một sở hữu của cha mẹ, để rồi phải nghe theo mọi sự sắp đặt chủ quan của cha mẹ. Khi con cái đã đến tuổi trưởng thành, chúng có quyền đưa ra suy nghĩ, chính kiến của mình, có quyền quyết định cho tương lai của mình. Thiết nghĩ, các bậc làm cha mẹ không nên giành quyền quyết định của con trong vấn đề liên quan đến hôn nhân của chúng. Đừng áp đặt tiêu chuẩn của mình lên tiêu chuẩn của con. Hôn nhân là chuyện cả đời của con cái, ngoài việc khuyên can và góp ý, hãy để chúng tự quyết định hạnh phúc của riêng mình miễn là hôn nhân đó không trái với luân thường đạo lý, thuần phong mỹ tục và các quy định của luật pháp.

  1. Môn đăng hộ đối

Lại một vấn đề nữa liên quan đến chuyện “sắp xếp” của cha mẹ. Cha mẹ thường muốn con cái mình kết hôn với người có địa vị ít là phải ngang tầm với mình để được “môn đăng hộ đối”, nở mày nở mặt với hàng xóng láng giềng. Ước nguyện “môn đăng hộ đối” này đôi khi là một loại biến tướng của kiểu hôn nhân vì vật chất, vì cái mã bên ngoài. Nhiều người, đặc biệt là các bậc cha mẹ, không muốn con cái mình kết hôn với người nghèo hơn, vì sợ mất mặt, sợ bị người ta chê cười, sợ bị hạ thấp danh dự. Rốt cuộc, hôn nhân vô tình trở thành một kiểu trang hoàng cho thế giá của gia tộc.

Mục đích của hôn nhân Kitô giáo là hướng đến hạnh phúc của đôi lứa, chứ không phải vì danh dự của bất cứ ai. Không nên vì những chuyện bên ngoài mà đánh mất đi hạnh phúc của đôi bạn trẻ yêu nhau thật lòng. Bất cứ người cha người mẹ nào cũng muốn con cái mình hạnh phúc, có gia đình đầm ấm, yêu thương nhau. Vậy thì đừng lấy tiêu chí phải chọn người “môn đăng hộ đối” mới cho cưới, mới ưng thuận chuyện làm dâu làm rễ. Là con cái mình dựng vợ lấy chồng chứ không phải mình, nên không được phép lấy hạnh phúc cả đời của con làm bình phong cho danh dự của mình.

  1. Phải có con trai

Tiếc là ngày nay, nhiều người, đặc biệt là bố mẹ chồng, vẫn thường đòi hỏi con dâu phải sinh cho được con trai để nối dõi tông đường. Họ thường trách con dâu là “không biết đẻ”, khi chỉ sinh ra một “bầy con gái”. Lối suy nghĩ này vừa cổ hũ vừa nói lên sự thiếu hiểu biết.

Con cái là của Trời cho, là do Chúa ban. Nhiều người mong ước có con nhưng lại không được. Vậy nên, cũng đừng kén cá chọn canh, đừng nhất quyết là “phải sinh con trai mới được”. Con trai hay con gái đều là con, là thành quả của một tình yêu và sự kết hợp giữa hai con người. Bởi thế, chúng đáng quý như nhau và có phẩm giá như nhau. Phải biết rằng điều quan trọng không phải là con gái hay con trai, nhưng là làm sao giáo dục chúng trở thành đứa con có hiếu, ngoan ngoãn, lớn lên trở thành một người có ích cho xã hội.

  1. Con dâu là mua về

Xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, mà nhiều người vẫn cho rằng “con dâu là mua về”. Cùng bước vào đời sống hôn nhân, nhưng lại có một sự khác biệt rất lớn giữa “con rể” và “con dâu”.

Dưới cái nhìn đức tin, ta phải chân nhận rằng hôn nhân không phải là chuyện mua bán. Người đàn ông và đàn bà đều có cùng một phẩm giá như nhau. Cả hai đều phải có trách nhiệm chăm lo cho gia đình mình và gia đình của hai bên. Con dâu là một thành viên mới của gia đình, chứ không phải là cái gì đó được mua về để mình có quyền sai khiến. Trong hôn nhân, người nam và người nữ bình đẳng với nhau, cùng ưng thuận với nhau để tạo lập một gia đình mới. Đó là kết quả của một sự tự nguyện trao hiến và nhận lãnh. Gia đình nào mà con dâu được đối xử tử tế như con cái trong nhà, quả thật là một phúc lành lớn lao.

***

Người nữ

Ngày nay, người nữ đã chiếm được một vị thế xứng đáng cho mình, nhưng ít ai biết rằng, để có được sự thừa nhận ấy của xã hội, họ đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, với biết bao mồ hôi, nước mắt và có khi là giá máu nữa. Được mệnh danh là phái yếu, phụ nữ là hiện thân của cái đẹp. Họ mảnh mai, yếu mềm và thường hành xử rất cảm tính. Đây là những đặc điểm làm nên vẻ đẹp của họ, nhưng cũng vì nó mà người nữ thường gặp nhiều thua thiệt trong cuộc sống. Đọc lại dòng lịch sử, đặc biệt từ thời phong kiến, ta thấy người nữ thường phải giữ nhiều kỷ cương luật lệ, các chuẩn mực đạo đức. Người ta thường không để người nữ đảm đương những việc lớn vì sợ sự cảm tính của họ đã làm hỏng chuyện. Có những xã hội và văn hoá còn xếp người nữ ở cấp độ rất thấp, thậm chí không đáng là “con người”. Trong khi đàn ông từ xưa đến nay vẫn luôn được coi trọng, số phận của người nữ phải trải qua nhiều sóng gió truân chuyên.

Thật ra, từ những vết tích do các nhà khảo cổ học tìm thấy, được cho là có niên đại khoảng 50.000 TCN, người ta nghĩ đến một giai đoạn nữ quyền. Người phụ nữ được xem là nguồn cội của sự sống, vì chính họ đã sinh ra những con người mới. Tất cả những gì gắn liền với sự phong nhiêu được gán cho người phụ nữ. Ngôn ngữ tiếng Việt cũng gán cho giống cái một ý nghĩa lớn lao liên quan đến sự sinh sản: sông cái, ngón cái, đũa cái… Tất cả những gì vĩ đại, cũng được dành cho người phụ nữ, vì người ta cho rằng nếu không có người nữ thì cũng không có sự sống. Có lẽ từ đây mới nảy sinh tục thờ Nữ Thần. Ta cũng hay gọi trái đất là Mẹ Đất (chứ không phải cha), vì trái đất (mặt đất) đã sinh ra những giống loài thảo mộc, những mầm sống tươi tốt. Như thế, vào thời kỳ đồ đá cũ, xã hội được đặc trưng bởi chế độ mẫu hệ, trong đó, vai trò của người phụ nữ được đề cao.

Sang đến thời đồ đá mới (khoảng năm 9750 TCN), con người bắt đầu canh tác đất đai và săn bắt thú để kiếm sống. Lúc này, người ta lại quan tâm nhiều hơn đến người đàn ông vì họ có sức khoẻ thể lý để lao động. Hơn nữa, con người dần dần phát hiện ra rằng chỉ khi nào có con đực thì con cái mới có thể sinh con. Con đực lại có khả năng giao phối với tất cả các con cái khác, chứ không nhất thiết lệ thuộc vào một con cái nào. Trong khi một con cái phải cần thời gian để sinh sản thì con đực lại có thể giao phối với con cái khác. Người ta bắt đầu đánh giá cao đàn ông vì cho rằng họ không những có khả năng góp phần vào việc sinh sản mà còn có tiềm năng đóng góp cho việc sinh sản ấy cao hơn người phụ nữ. Từ đó, dù không chối bỏ khả năng trực tiếp “tạo ra” sự sống của người nữ, nhưng người nam lại giành được vị thế quan trọng hơn. Người nữ chỉ đảm nhận một vài bổn phận là ở nhà sinh con, chăm sóc con cái, làm việc nhà, hái lượm… Những việc trọng đại khác như săn bắt, chiến đấu, lãnh đạo được giao cho đàn ông.

Từ đây, số phận của người phụ nữ bắt đầu gặp sóng gió. Do chân yếu tay mềm, hành xử cảm tính, người phụ nữ bị xem như là một món hàng. Họ bị mua bán, làm trò tiêu khiển, cũng như thể thoả mãn nhục dục cho những đàn ông giàu có. Trong những nền văn hoá đa thê, họ phải chung chia chồng mình với những người đàn bà khác. Nhiều phụ nữ bị bán vào hoàng cung, làm phi tần, phục vụ vua, tuy có chút danh phận nhưng cả đời chẳng bao giờ được chồng đoái hoài đến. Ở nơi khác, chuyện cưới xin của họ cũng do người lớn sắp đặt, cưới một người phụ nữ cũng giống như mua một nô lệ, phải trả một món tiền. Ở Hy Lạp, người đàn bà hoàn toàn không có quyền hành gì trên chính bản thân mình. Họ lệ thuộc vào gia đình hoặc vào chồng. Họ không được ăn học và phải sống ở những nơi thấp hèn dành riêng cho mình. Với sự ảnh hưởng của nền triết học quá coi trọng lý trí, người phụ nữ, do thường hành xử theo cảm tính, bị cho là không có lý trí và vì thế, không phải là con người đúng nghĩa… Với cách hành xử như thế, ta thấy ngay một thái độ trọng nam khinh nữ. Sinh một đứa con trai là có được phú quý. Sinh một người còn gái là mang một của nợ vào thân.

Liên quan đến vấn đề tính dục, thời trước, người ta cho rằng sự sống hệ ở người đàn ông, người đàn bà chỉ “lưu giữ” sự sống trong cơ thể mình, rồi đến lúc thuận tiện thì sinh con ra mà thôi. Nhưng vào khoảng thế kỷ 17 trở đi, khi các ngành khoa học phát triển, đặc biệt là sinh học, người ta mới biết rằng để có thể thụ tinh tạo nên một mầm sống mới, phải có sự kết hợp giữa tinh trùng của người nam và trứng của người nữ. Phát hiện này cho thấy người nữ không hề giữ vai trò thụ động trong việc sinh sản. Cơ thể người nữ không phải là “lò ấp em bé” do đàn ông đưa vào, nhưng thật sự là một yếu tố đóng góp vào sự hình thành và phát triển của một mầm sống. Từ những năm 1900, vai trò của người nữ, nhờ những phát kiến khoa học giúp đỡ, đã được cải thiện khá nhiều. Họ bắt đầu đấu tranh để có được sự bình đẳng giới, để khẳng định vị trí và vai trò của mình trong xã hội, để giành cho mình quyền và nghĩa vụ của một con người. Cho đến nay, người nữ đã bắt đầu giữ những vị trí cốt yếu trong bộ máy lãnh đạo. Họ không còn bị coi thường và cũng không còn sự phân biệt đối xử nào với họ.

Khác với những định kiến mà xã hội dành cho phụ nữ, Giáo Hội Công Giáo, ngay từ buổi sơ khai, đã luôn dành cho phụ nữ một chỗ đứng quan trọng. Trong Giáo Hội, không có sự phân biệt giữa người nam và người nữ về phẩm giá, chỉ có sự khác biệt liên quan đến chức năng. Dưới ánh sáng của Tin Mừng, tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, đều là con cái Thiên Chúa. Chính Con Thiên Chúa đã chấp nhận làm người, được sinh hạ bởi một người phụ nữ và đã nâng người phụ nữ ấy lên làm mẫu mực cho tất cả những ai có lòng tin. Ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang đến được tặng ban cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Trong Giáo Hội cũng đã có rất nhiều các vị thánh nữ được tuyên phong, nêu gương sáng đời sống đức tin cho mọi người.

Liên quan đến đời sống hôn nhân và gia đình, ta đã thấy sự ưu ái của Thiên Chúa dành cho người nữ trong trình thuật sách Sáng Thế. Hình ảnh “được dựng nên từ xương sườn của Adam” muốn nói đến vị trí quan trọng và không thể thiếu của người nữ đối với người đàn ông. Chỉ khi có người đàn bà xuất hiện, công trình tạo dựng của Thiên Chúa mới đi đến chỗ hoàn tất. Người nam và người nữ nhận lãnh sứ mạng “kết hợp với nhau” để sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mọi loài. Không có chuyện người này thống trị người kia, cũng không có ai dưới quyền của ai. Tất cả đều bình đẳng, bổ trợ cho nhau, giúp nhau hoàn thành sứ mạng của mình. Người nam và người nữ có những nét khác biệt, nhưng không đối nghịch nhau. Họ được dựng nên là để cho nhau, kiện toàn cho nhau.

Bởi thế, là người Công Giáo, chúng ta cần phải có một cái nhìn đúng đắn liên quan đến người nữ. Cần phải dành cho người nữ một vị trí xứng hợp để họ có thể đóng góp khả năng và trí lực của mình. Hơn hết, cần phải nhìn về họ với một phẩm giá cao quý như Thiên Chúa đã đặt định khi tạo dựng nên họ.

***

Đặc tính hôn nhân Kitô giáo

Hôn nhân là một vấn đề quan trọng, không chỉ đối với bản thân hai người kết hôn, nhưng còn đối với gia đình, xã hội và Giáo Hội. Bởi thế, trước khi tiến đến hôn nhân, đôi bạn trẻ được mời gọi phải tìm hiểu nhau thật kỹ, phải có một thái độ trưởng thành về tình yêu, phải có một hiểu biết cặn kẽ và chắc chắn về hôn nhân để thực hiện một quyết định chung cuộc cho cuộc đời mình. Vì hôn nhân rất quan trọng và còn dính líu đến gia đình hai bên và con cái, nên không thể xem nó như trò đùa, thích thì cưới, không thích thì chia tay. Hôn nhân là nền tảng để làm nên gia đình, gia đình lại là nền tảng của xã hội; nên gia đình càng vững bền, hạnh phúc, xã hội càng phồn thịnh phát triển. Cũng tương tự như vậy trong tương quan giữa hôn nhân, gia đình và Giáo Hội. Xuất phát từ ý muốn của Thiên Chúa được mặc khải trong Kinh Thánh và qua tự nhiên, điều 1056 của bộ Giáo Luật 1983 có nói đến hai đặc tính của Hôn Nhân Kitô giáo là độc nhất và bất khả phân ly.

Khi nói đến tính độc nhất, ta hiểu đó là kiểu hôn nhân một vợ một chồng. Trong lịch sử nhân loại cũng như trong nhiều nền văn hoá và tôn giáo, thậm chí thời nay, vẫn còn tồn tại kiểu hôn nhân đa thê, hoặc đa phu: một người có thể cùng một lúc có nhiều vợ hoặc nhiều chồng. Họ chấp nhận chung chia người bạn đời của mình với người khác. Có nhiều lý do khác nhau để giải thích hiện tượng này. Đó có là thể di tích còn sót lại của một tập tục cổ xưa, hoặc có khi là do tình trạng thiếu người nam hoặc thiếu người nữ, hoặc vẫn còn lối nghĩ trọng nam khinh nữ, trọng nữ khinh nam… Nhiều nơi vẫn chấp nhận kiểu hôn nhân này miễn là người chồng hoặc người trụ cột trong gia đình có thể chu cấp đầy đủ về vật chất cho người bạn đời và cho con cái.

Giáo Hội Công Giáo không chấp nhận kiểu hôn nhân này. Tự bản chất, khi yêu ai, ta muốn mình chỉ thuộc trọn về người đó và người đó thuộc trọn về mình. Tình yêu là một sự trao hiến hoàn toàn, chứ không phải một phần. Nó loại trừ tất cả mọi sự san sẻ. Hôn nhân, vì đặt nền trên tình yêu trao hiến hoàn toàn ấy, nên chỉ có thể trở nên trọn vẹn khi không có người thứ ba nào can thiệp vào. Chính từ sự kết hợp hoàn hảo và trọn vẹn giữa hai người này mà làm nảy sinh một mầm sống mới, như hoa quả của nhành cây ân ái. Ngoài ra, hôn nhân là kết quả của tình yêu. Người ta kết hôn để mưu cầu hạnh phúc chứ không chỉ đơn thuần là sống chung hay để có cuộc sống sung túc về vật chất. Hơn nữa, xét về phẩm giá, người nam và người nữ tuy khác nhau nhưng ngang bằng nhau, tất cả đều là vô giá và hạnh phúc của mỗi người đều phải được trân quý như nhau. Một người nam tương xứng với một người nữ, làm nên một cuộc hôn nhân, rồi sinh ra con cái, đó là một tổ ấm hạnh phúc nhất. Có người từng nói, hôn nhân khác với bạn bè ở chỗ: bạn bè thì càng đông càng vui, còn hôn nhân thì ngược lại.

Cứ sự thường, khi kết lập giao ước hôn phối, ai cũng mong muốn nó được kéo dài mãi, hai bên luôn mặn nồng chung thuỷ với nhau đến khi nắm tay xuống suối vàng. Tuy nhiên, cuộc sống luôn có những điều không hay xảy đến. Hôn nhân vốn dĩ được đặt nền trên tình yêu, nhưng tình yêu không phải lúc nào cũng màu hồng. Có thể xảy ra những xung đột, có khi tình yêu không còn, có khi hai bên không thể tiếp tục chung chia cuộc sống. Dân luật giải quyết trường hợp này bằng cách cho phép hai người ly dị, cắt đứt sợi dây hôn phối, hai bên không còn quyền và nghĩa vụ gì với nhau, họ được phép kết giao một hôn nhân với người khác.

Khác với luật đời, luật Giáo Hội, chiếu theo mệnh lệnh của Thiên Chúa, không cho phép hai người đã kết hôn thành sự và hoàn hợp ly dị. Nghĩa là, khi hai người trưởng thành, không có ngăn trở gì, tự do và ý thức xin Giáo Hội chuẩn nhận cho tình yêu của mình, sau đó, họ đã có hành vi vợ chồng với nhau (gọi là hoàn hợp) thì hôn nhân đó là bất khả phân ly. Khi xảy ra trường hợp tệ nhất, họ cũng chỉ có thể ly thân, nghĩa là tạm thời không sống chung một mái nhà, chứ không thể làm cho hôn nhân này mất hiệu lực, để rồi kết hôn với người khác. Khi đưa ra quy định này, Giáo Hội không có ý “làm khó” giáo dân, cũng không tự biến mình thành “kẻ độc đoán”, nhưng Giáo Hội chỉ tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa từ thuở tạo thiên lập địa và được Đức Giêsu khẳng định: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,6-9).

Thật ra, không chỉ đối với hôn nhân Kitô giáo, nghĩa là hôn nhân mang tính bí tích, ngay cả những hôn nhân tự nhiên của những người chưa được rửa tội, Giáo Hội cũng xác nhận tính “bất khả phân ly” của nó. Như thế, tính bất khả phân ly của hôn nhân không phải là một áp đặt của Giáo Hội, nhưng là cái xuất phát từ tự nhiên mà Giáo Hội công nhận. Khi người ta cam kết để tạo lập hôn nhân, đó là một cam kết vĩnh viễn và trọn đời, chứ không phải một phần hay tạm thời. Chỉ có cái chết mới có thể xoá đi được cam kết này. Vì thế, Giáo Hội cũng không cho phép con cái mình kết hôn với người đang bị ràng buộc bởi dây hôn phối với người khác, dù hôn phối ấy không mang tính bí tích.

Đôi khi ta vẫn thấy có một số trường hợp hai người đã kết hôn, nhưng sau đó lại chia tay và kết lập giao ước mới. Đó không phải là vì Giáo Hội cho phép ly hôn, nhưng vì hôn nhân đó bị mắc những ngăn trở nào đó, khiến nó đã không thể thành sự ngay từ lúc đầu. Hoặc đôi khi, vì lợi ích đức tin của tín hữu, Giáo Hội chuẩn chước cho một số trường hợp ngoại lệ theo những điều kiện quy định để hưởng đặc ân Phaolô hoặc đặc ân Phêrô. Tuy nhiên, để cứu xét những trường hợp này, Giáo Hội phải rất cẩn trọng, để không đi ngược lại với giáo huấn của Đức Giêsu, mà vẫn có thể giúp cho các bên sống đức tin của mình cách tốt đẹp nhất.

Trước khi đi đến hôn nhân, các bạn trẻ phải được dạy cho biết về hai đặc tính này, để khi đã tự nguyện cam kết rồi thì cố gắng vun đắp cho hôn nhân của mình, chứ không tìm cách thoái lui, tìm cách giải thoát để sống theo tự do của mình.

***

Ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo

Tất cả mọi cuộc hôn nhân đúng nghĩa đều phải xuất phát từ tình yêu dành cho nhau. Khi một người nam và một người nữ yêu thương nhau, họ tự thấy có một lực đẩy nào đó, muốn họ tiến lại gần nhau hơn, kết lập với nhau một giao ước, làm nên một gia đình riêng để chung hưởng hạnh phúc với nhau. Đây là một huyền nhiệm mà Tạo Hoá chỉ dành cho con người. Từ hai người xa lạ hoàn toàn, họ bỗng trở nên thấy không thể sống thiếu nhau. Họ sẵn sàng hy sinh và từ bỏ tất cả để kết hiệp với nhau. Chuyện kết hôn trở nên thường hằng đến nỗi, nếu không vì một lý tưởng cao đẹp hay vì một lý do bất khả kháng nào đó, người nào không biết yêu, không kết hôn với ai dường như bị xem là “có vấn đề”. Thậm chí, các bậc cha mẹ cũng thấy “sốt ruột” khi con mình đã lớn mà không có người yêu, không hẹn họ với ai, không nghĩ đến chuyện lập gia đình.

Đã đành tình yêu là nền tảng cho hôn nhân, nhưng những người Kitô hữu được mời gọi để tìm hiểu thêm về nguồn gốc của tình yêu mà họ đã nhận lãnh. Hẳn nhiên, đó không phải là một cảm xúc nảy sinh từ chính bản thân họ như thể chính họ tự mình làm phát sinh tình yêu dành cho ai đó. Con người không phải là nguồn cội của tình yêu. Tình yêu trong hôn nhân nói chung và hôn nhân Kitô giáo nói riêng có nguồn gốc từ chính Đấng là Tình Yêu. Chính Tình Yêu ấy đã thổi bùng lên những tình yêu khác trên dương gian, trong đó có tình yêu giữa nam và nữ. Như thế, tình yêu giữa hai người muốn kết lập mối dây hôn phối là phản ánh tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu luôn tự hiến cho đi cách hoàn toàn, vì lợi ích của người mình yêu.

Triết học Hy Lạp có phân chia thành ba loại tình yêu. Tình yêu ở cấp thấp nhất được gọi là eros, có ý nói đến tình yêu theo kiểu tính dục, khi người này muốn sở hữu người kia như là cái của riêng mình. Tình yêu ở cấp cao hơn là filia, một kiểu tình yêu đặt nền trên tương quan tự do, ngang hàng, hoà nhã chứ không có ý chiếm hữu. Tình yêu ở cấp độ cao nhất gọi là agape, một tình yêu trao hiến hoàn toàn chính mình cho người khác. Ba loại tình yêu này dường như cũng muốn nói đến ba cấp độ hoàn thiện của tình yêu. Cả ba đều tồn tại, chứ không loại trừ nhau, nhưng lý tưởng là đạt đến cấp agape, là kiểu mẫu tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa và tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Như thế, kiểu mẫu cho bất cứ tình yêu nào trên trái đất này, cách cụ thể là cho tình yêu hôn nhân, là chính Thiên Chúa. Ba Ngôi Thiên Chúa luôn tự trao hiến cho nhau cách trọn vẹn. Chính Ngôi Hai – Đức Giêsu Kitô đã cho chúng ta thấy điều đó nơi cuộc tế lễ trên Đồi Golgotha năm xưa. Cái chết của Đức Giêsu mang ý nghĩa cứu độ, nghĩa là nhờ cái chết đó mà muôn loài thụ tạo được cứu thoát khỏi sự chết. Nhưng trước hết, ta phải nhìn thấy nơi đó một sự tự hiến của Đức Giêsu dành cho Chúa Cha. Ngài đã không từ chối Cha điều gì, đã trao dâng tất cả cho Cha, trọn vẹn thân xác và linh hồn. Tự bản thân cái chết thì chẳng có ý nghĩa gì, nhưng cái chết của Ngôi Hai Thiên Chúa trong hình hài Giêsu, được đón nhận một cách tự nguyện và được cử hành như một hy lễ thì có sức làm lan toả ơn sủng từ Trời cho muôn loài.

Chính Chúa Cha cũng đã trao ban chính mình cho Chúa Con. Cũng như Chúa Con là Đấng “tuy là Thiên Chúa nhưng không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (x. Pl 2,6), Chúa Cha cũng đã không dành riêng vinh quanh Thiên Chúa cho mình. Từ của lễ mà Con dâng lên, là sự hy sinh vì tình yêu của mình, Chúa Cha đã “siêu tôn Người và tặng ban cho Người một danh hiệu, trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, để từ nay, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kito là Chúa” (x. Pl 2,8-11). Có thể nói, giữa Cha và Con luôn có một sự trao hiến trọn vẹn chính mình và Thánh Thần chính là nhiệm xuất từ sự trao hiến ấy.

Không chỉ trong nội tại Ba Ngôi, Thiên Chúa còn tỏ lộ tình yêu của mình dành cho con người. Ta thấy rất nhiều dẫn chứng trong Kinh Thánh nói về việc Thiên Chúa luôn ngỏ lời với con người và mời gọi con người đi vào trong sự hiệp thông với mình. Tình yêu bắt đầu từ sự gặp gỡ, sau đó thiết lập với nhau một tương quan, mặc khải chính mình cho nhau, thiết lập với nhau giao ước. Giao ước ấy như một chứng thực cho tình cảm mà cả hai dành cho nhau. Dù con người không biết bao nhiêu lần bội ước, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với những gì mình cam kết từ xa xưa. Đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại được nhìn thấy nơi cái chết tự hiến của Đức Giêsu trên thập giá, khai mở một kỷ nguyên mới cho toàn thể muôn loại thụ tạo trong vũ hoàn. Thiên Chúa đã luôn đi bước trước, và mở lời mời gọi con người đi vào trong sự hiệp thông với mình. Chính từ mầu nhiệm Thương Khó và Vượt Qua này của Đức Giêsu, ta hiểu được ý nghĩa của tính dục con người và tình yêu hôn nhân: một sự cho đi để hướng đến sự sống mới.

Khi kết hôn với nhau, đôi phối ngẫu được mời gọi chiêm ngắm và phác hoạ lại tình yêu của Ba Ngôi dành cho nhau và cho toàn thể nhân loại. Kết hôn là bước vào một giao ước mới, nơi đó, hai người làm sống lại hình ảnh Thiên Chúa trong tương quan với nhau và với mọi người. Trước hết, đó phải là sự hiệp thông với nhau nên một, vì cả hai “chỉ là một xương một thịt”. Tiếp đến là một sự trao ban, hy sinh, thông truyền chính mình cho nhau, vì đây là cách thức duy nhất để làm cho hôn nhân được thăng tiến. Sau nữa là hướng đến một sự sống mới sẽ xuất hiện như kết quả của tình yêu tuyệt đẹp này. Tình yêu không phải là một năng động khép kín. Nó sẽ lớn lên hoặc lụi tàn. Khi được chăm sóc kỹ lưỡng, nó sẽ trưởng thành và sinh hoa trái. Người nào kết hôn mà không muốn có con thì đã đi ngược lại với ý định của Tạo Hoá và không được Giáo Hội chấp nhận. Các cặp vợ chồng và con cái được mời gọi để sống chiều kích trao hiến cho nhau, hướng đến việc nên thánh trong bậc sống của mình.

Gia đình – vợ chồng và con cái – lý tưởng mà nói, phải là hiện thân của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu. Người ta gọi gia đình là tổ ấm, chính vì nơi đó có sự hiện diện của tình yêu; tình yêu làm cho bầu khí trở nên ấm cúng, gần gũi, đáng quý. Từng thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng, phải luôn sống được chiều kích Vượt Qua của Đức Giêsu. Nghĩa là, phải luôn sống trong sự tự hiến, hy sinh cho nhau, để từ đó, cả hai vượt qua được bóng tối của sự chết mà tiến về hạnh phúc vĩnh viễn trong Thiên Chúa. Đúng ra, cuộc hôn nhân nào cũng thật sự là một cuộc tự hiến. Vợ – chồng – con cái là thánh giá của nhau. Nhưng như Đức Kitô đã cho chúng ta thấy, ta tiến về Thiên Đàng là nhờ thánh giá, chứ không phải bằng con đường nào khác. Thánh giá tuy rất nặng, nhưng khi có tình yêu, nó sẽ trở nên cánh hoa toả ngát hương thơm.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Tài liệu tham khảo

Benanti Paolo, Amerai! Un Viaggio alla Ricerca del Senso della Sessualità per una Fondazione del Legame di Coppia, Cittadella Editrice, Assisi, 2014.

Ghirlanda Gianfranco, Il Diritto nella Chiesa Mistero di Comunione, Compendio di Diritto Ecclesiale, Gregorian & Biblical Press, 2015.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Bộ giáo Luật 1983, bản dịch 2006.

Padovese Luciano, Uomo e Donna, A Imagine di Dio, Lineamenti di Morale Sessuale e Familiare, Facoltà Teologia del Triveneto, Padova, 2007.

Smith William B., Modern Moral Problems: Trustworthy Answers to Your Tough Questions, edited by Donald Haggerty, Ignatius Press, San Francisco, 2012.

CÁC BÀI LIÊN QUAN 

Người tôi yêu…

Cuộc đời này sẽ trở nên u buồn biết mấy khi vắng bóng tình yêu. Phúc cho người nào ngay khi bước vào cánh cửa của cuộc đời đã tìm thấy cho mình một nửa còn thiếu vắng, để cùng song hành với mình trong suốt quảng đường dài dương thế lắm gập ghềnh chông gai. Tình yêu không phải là một ý niệm trừu tượng người ta tự suy diễn ra nhưng được người ta cảm nhận thấy bằng cả ý thức và con tim mình. Nó là cái lấp đầy cho nỗi cô đơn của ta, là cái giúp xua tan đi những “nỗi buồn không tên” của ta, và được thể hiện cụ thể nơi một con người nào đó. Ta gọi đấy là “một nửa” vì ta tự nhận thấy những gì mình đang có không thật sự đầy đủ và làm cho mình thoả mãn hoàn toàn. “Một nửa” kia là phần thiếu đi của mình, là cái mà Tạo Hoá dựng nên cho mình, nhưng lại đặt để ở một nơi xa nào đấy khiến mình phải vất vả kiếm tìm. Và khi đã tìm được “một nửa” ấy rồi, ta như thể tìm được kho tàng, con người ta trở nên đầy đủ và hạnh phúc được nảy sinh. “Một nửa ấy” chính là người tôi yêu, người tôi muốn sở hữu cho riêng mình và cũng là người mà tôi muốn trao tặng tất cả những gì mình có.

Người tôi yêu là người có thể mang đến cho tôi niềm hạnh phúc lớn nhất, nhưng cũng là người duy nhất khiến tôi rơi vào nỗi đau sâu thẳm nhất. Càng yêu thì càng đau. Yêu càng đậm thì vết thương càng lớn. Yêu một người cũng hệt như chơi một trò chơi định mệnh. Khi tôi yêu, tôi chỉ biết làm theo những gì con tim mình mách bảo thôi, nhưng tôi lại không có quyền bắt người kia cũng phải yêu tôi bằng một tình yêu như thế. Tôi xem người đó là “một nửa” của tôi, nhưng tôi lại không có khả năng biến mình thành “một nửa” trong mắt người ấy. Khi yêu, tôi trao cho người đó một con tim, và tôi gửi gắm trong đó một niềm hy vọng rất lớn: tôi hy vọng người đó sẽ đón nhận trái tim đang say nồng của tôi. Nhưng niềm hy vọng ấy của tôi có được thành toàn hay không lại là một câu chuyện khác. Tôi yêu nhưng tôi không chắc là liệu mình có được yêu hay không. Giả như tôi may mắn, thế gian này đối với tôi đã hoá nên Thiên Đàng. Còn nếu tình yêu tôi trao đi không được đón nhận, tôi như mất đi tất cả. Hình bóng người tôi yêu bỗng trở thành nỗi ám ảnh khiến lòng tôi nhức buốt không thôi. Người tôi yêu có đôi khi chưa chắc là người yêu tôi!

Người tôi yêu là người xuất hiện trong đời tôi không phải do tôi chọn lựa, nhưng đích thật là một món quà của Tạo Hoá. Tình yêu vốn là cái không nằm trong phạm trù của trí khôn hay của khoa học. Tôi không thể dùng công thức hay máy móc để tìm người tôi yêu. Bố mẹ có thể sắp xếp để tôi kết hôn với người này người kia, nhưng bố mẹ không thể khiến tôi yêu người ấy. Tôi có thể chọn người này người kia làm người yêu, nhưng không phải cứ cặp kè bên nhau, đi xem phim, ăn uống, hẹn hò với nhau là yêu nhau. Nhưng có khi chỉ cần một sự tình cờ chạm mặt nhau của đôi mắt nơi một chốn công cộng nào đó cũng đủ để làm phát sinh tình yêu rồi. Tình yêu là cái gì đó nằm ngoài sự tính toán của con người. Tự bản thân nó là một món quà mà Tạo Hoá muốn ta phải nhận. Bởi thế, tình yêu là định mệnh, là duyên nợ, là cái gắn liền ở mức độ hiện sinh của con người, chứ không phải là một kiểu ghép nối dựa trên những tiêu chuẩn bề ngoài. Người ta chỉ có thể xây dựng tình yêu khi giữa hai bên đã đó tình yêu nảy sinh. Đó là lúc mà người tôi yêu cũng là người yêu tôi bằng cả tấm chân tình.

Người tôi yêu là người có khả năng làm xáo trộn tất cả mọi sự trong cuộc đời tôi. Người ấy nắm giữ mọi cảm xúc trong tôi. Người ấy có thể khiến tôi buồn, làm tôi vui, giúp tôi cười hay bắt tôi phải nhỏ lệ. Bởi khi yêu, tôi không còn là tôi nữa, tôi không còn làm chủ được mình nữa. Mọi niềm vui nỗi buồn của tôi đều lệ thuộc hoàn toàn vào người ấy. Tôi gọi người ấy là “một nửa” nhưng thật sự người ấy là tất cả của tôi, là trọn vẹn của tôi. Mọi sự tôi có, giờ không còn là của tôi. Thậm chí, vì tình yêu, tôi có thể và sẵn lòng bỏ đi hết mọi sự, để chỉ có được người đó trong cuộc đời mà thôi. Sự sống của tôi cũng chẳng còn thuộc về tôi. Tôi nguyện hy sinh chính mình để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người ấy. Tôi sống trong sự sống của người ấy và người ấy hiện diện trong sự sống của tôi. Tôi chẳng hiểu vì sao lại như thế, sao tình yêu lại có một sức mạnh phi thường đến như vậy. Tôi chỉ biết rằng dường như đó là một mệnh lệnh mà Tạo Hoá đã thiết định giữa thế gian này. Thật diệu kỳ!

Cuộc đời tôi sẽ được mở sang trang mới từ khi có người tôi yêu xuất hiện trước mắt. Tình yêu đến hệt như ánh nắng mai bừng dậy, đánh thức tôi sau một đêm dài ngủ say. Thật bất ngờ và lãng mạn! Tôi vừa thấy mình mất đi một “cái xương sườn” nhưng tôi lại tìm thấy cả một sự hoàn mỹ hiện hữu trước mắt. Đây là người mà tôi cho rằng “xương bởi xương, thịt bởi thịt” của tôi, là người mà tôi phải lìa bỏ cả cha mẹ để gắn kết suốt cả cuộc đời. Người ấy có thể sẽ mang đến cho tôi nhiều thiệt thòi và mất mát nhưng cũng là người mà tôi không thể thiếu trong cuộc đời này. Tôi thấy mình giống như lệ thuộc vào người ấy, một sự lệ thuộc không biến tôi trở nên nhỏ bé và chết đi, nhưng làm cho tôi được đong đầy hạnh phúc và lớn lên trong sự viên mãn. Người tôi yêu là vị thiên thần của cuộc đời tôi, là người nắm tay tôi, cùng tôi đi đến bến bờ hạnh phúc.

***

Khi đã không yêu

Khi đã không yêu, thì đừng ép mình phải yêu. Tình yêu đâu phải là cái có thể muốn là được, không muốn thì thôi. Không yêu chỉ đơn giản là không yêu. Vì con tim không rung động, không bồi hồi, không thấy nhớ nhung, không thấy trống vắng! Đừng dùng lý trí mà bắt ép con tim. Nó chẳng những không thay đổi được con tim mà còn làm ta cứ ảo tưởng về một tình yêu, trong khi nó chỉ là một loại tình gượng ép, không tồn tại lâu bền.

Không yêu thì cứ nói là không yêu. Nhưng hãy nói theo một cách thức thật nhẹ nhàng, mềm mại để người kia có thể từ từ chấp nhận. Vì nếu không, họ chắc chắn sẽ đau lòng lắm. Một tình yêu phát ra, nếu nó không tìm thấy được sự đồng thuận từ tình yêu ngược nhiều, sẽ trở thành một nỗi ám ảnh rất khủng khiếp, một sự thất vọng đến vô chừng. Có lẽ bởi vì thế mà nhiều người không dám nói ra tiếng yêu của mình. Có một nỗi sợ nào đó đằng sau sức cuốn hút của tình yêu.

Nhưng thà cứ nói là không yêu, còn hơn cứ giả vờ yêu, rồi làm người ta “cứ ngỡ”. Đến một ngày nào đó, khi không còn “giả vờ” được nữa, mọi cảm xúc được phơi bày, người kia sẽ đau một nỗi đau vô tận. Càng chờ đợi bao nhiêu, sẽ càng hụt hẫng bấy nhiêu. Ai chẳng muốn người mình yêu yêu mình. Nhưng thà là người đó không yêu mình còn hơn là bị người đó lừa gạt mình, chơi đùa với tình yêu của mình. Những câu nói mùi mẫn, những lời hứa hẹn tương lai, những nụ cười gợi lên sức sống. Có ai ngờ rằng đằng sau tất cả những điều đó là một sự gượng ép. Trong tình yêu, người ta không thích sự thương hại. Chỉ vì sợ người ta đau mà không dám từ chối một tình yêu mình không thể đón nhận, để rồi cắn răng chịu đựng nó, đó là một cái dại to lớn nhất trần đời.

Đừng lẫn lộn tình yêu với một kiểu nghĩa tình nào đó. Đừng cho rằng cứ gắn bó với ai là yêu họ. Đừng nghĩ rằng cứ chơi với họ lâu năm là mặc nhiên trở thành người yêu. Đừng vội tin vào một vài tin nhắn. Đừng mơ tưởng đến một câu chuyện ái tình trên màn ảnh rồi gán ghép cho mình. Và đặc biệt, đừng cố gắng yêu ai để trả thù cho một cuộc tình bất thành trước đó. Cũng đừng vì thấy cô đơn, trống trãi mà tựa nhầm một bờ vai, nắm nhầm đôi bàn tay cho khuây khoả tâm hồn. Đừng lấy con tim của mình và của người khác ra làm trò chơi. Đừng xem tình cảm là cái có thể nhận lấy và buông bỏ lúc nào tuỳ thích. Tình yêu có thể chữa lành tất cả, nhưng nó cũng có thể khoét sâu những vết thương chẳng thuốc nào có thể phục hồi.

Cứ để tự nhiên thôi, vì tình yêu không có quy tắc hay tiêu chuẩn. Yêu chỉ vì yêu, chứ  không phải vì lý do nào cả. Ta không quyết định được mình yêu ai ghét ai, ta chỉ có thể đón nhận nó. Có những khi ta chẳng hiểu vì sao mình lại mê đắm người này đến điên dại, trong khi người khác thậm chí có nhiều điểm nổi trội hơn, ta chẳng thấy có chút thu hút nào. Tình yêu chảy vào con tim ta hệt như dòng nước rả rích tí tách bên con suối. Nhẹ nhàng, chẳng có chút gượng ép nào, nhưng đủ sức bào mòn những khối đá lớn dám ngăn cản đường đi. Khi tình yêu đã dạt dào phủ lấp trọn con tim, ta tự khắc biết mình phải làm gì, cần làm gì, không cần ai chỉ vẽ.

Nhưng tình yêu cũng cần được vun đắp và dựng xây. Nó tự nhiên đến, nhưng để giữ nó lại, ta cần phải dùng hết sức mình. Tình yêu sẽ ở lại với người nào biết nâng niu nó, biết xem trọng nó, biết chăm sóc cho nó từng giây từng phút trong cuộc đời. Tình yêu không phải là cái để nhìn ngắm bâng quơ. Nó cần được chăm chút để sinh hoa kết trái theo dòng thời gian trôi.

Bởi thế, hãy biết trân quý khi tình yêu đến và đừng vội vàng tự ban cho mình một tình yêu nhân tạo. Giữa sự “không yêu” và “yêu” có một khác biệt rất lớn. Khi ta can đảm nói “không yêu” chính là ta đang mở lòng để đón chờ một tình yêu đích thực. Đừng tự lừa dối mình, đừng tự gán ghép mình vào một tương quan không do con tim mình thúc đẩy. Ta sẽ là người đau khổ, người kia cũng đau khổ. Ta vô tình trở thành kẻ ác độc, còn vết thương của người kia thì chẳng biết đến khi nào mới lành. Kẻ chơi đùa tình yêu sẽ có ngày bị tình yêu chơi đùa lại, lời răn dạy này chẳng bao giờ sai.

***

Khi con tim tan vỡ

Nếu được hỏi “cái gì là tuyệt vời nhất trên đời này”, có lẽ ta sẽ trả lời rằng đó là “tình yêu”. Tình yêu là một huyền nhiệm vô cùng cao sâu đến nỗi chẳng ai có thể giải thích được ngọn nguồn về nó. Có người còn cho rằng tình yêu không phải là cái được đem ra để phân tích, nhưng chỉ nên được cảm nghiệm mà thôi. Khi đã yêu, lý trí nhường chỗ cho trái tim vì lý lẽ của lý trí không thắng được lý lẽ của con tim vào thời điểm ấy. Một tình yêu chân thật thì có đủ sức làm biến đổi một con người, có thể làm người ấy từ xấu thành đẹp, từ hung dữ nên hiền lành, từ yếu đuối nên mạnh mẽ. Tình yêu chính là chiếc cầu đưa người ta từ trái đất lên thiên cung, là ngọn đèn xóa tan cái màn đêm cô đơn buồn tủi, là nắng ấm dọi vào những giá lạnh thê lương. Chẳng có loài nào không thích mình được yêu. Chẳng có ai không muốn cho tình yêu của mình được trọn vẹn. Nhưng, lỡ như tình yêu ấy không thành, thì sao?

Ta gọi đó là “con tim tan vỡ”. Có một nỗi đau nào đấy cứ nhói nhói ở lồng ngực, nơi con tim nhỏ bé của ta cư ngụ. Ta nghe như có mũi tên xuyên qua, làm con tim ấy muốn vỡ ra nhiều mảnh. Một nỗi đau làm ảnh hưởng đến toàn bộ con người. Một khi con tim bị một tình yêu không thành làm tổn thương, mọi thứ trong cuộc sống ta như đảo lộn. Ta chẳng có đủ sự tỉnh táo để làm việc, chẳng có tâm trí để học tập hay nghỉ ngơi, hay thậm chí chẳng còn thấy ý nghĩa của cuộc sống. Có vẻ như động cơ để người ta sống là kiếm tìm một tình yêu, nên khi tình yêu không còn nữa, người ta cũng muốn mình chết đi, tiêu tan đi, không còn hiện diện. Cánh hoa không còn đẹp nữa, khung trời xanh cũng trở nên u ám sầu buồn, thức ăn ngon cũng trở nên nhạt nhẽo vô vị, giọt cà phê hay khói thuốc lá chất chứa đầy những mối tâm tư. Thất bại trong tình yêu, chia cắt trong tình yêu, đích thực để lại trong ta một nỗi mất mát và trống trơn đau đớn khôn cùng. Vào giây phút này, điều duy nhất mà ta cảm thấy chỉ là một nỗi buồn. Nhưng liệu đó có là cái kết cho cuộc sống của ta?

Khi yêu, ta luôn mong tình yêu của mình được đi đến sự trọn vẹn. Nhưng mong ước là một chuyện, thực tế có đáp ứng mong ước ấy của ta hay không lại là chuyện khác. Tự cổ chí kim, đã có không ít những mối tình đẹp như mơ, vậy mà có được cái kết tốt đẹp đâu! Người ta đổ lỗi cho ông Trời đã nhẫn tâm chia cắt đôi lứa, trách ông đã tạo nên những nghịch cảnh khiến hai người không thể mãi chung đôi, đã nỡ cắt đi sợi chỉ uyên ương đang từ từ kết nối. Ông Trời vẫn cứ im lặng, không nói gì, để mặc cho người ta tha hồ oán hờn trách móc.

Biết đâu tình yêu của ta là một tình yêu lệch đường, đi vào một vùng cấm nào đó. Biết đâu tình yêu của ta không được xã hội chấp nhận. Biết đâu tình yêu của ta đi ngược lại với thuần phong mỹ tục… Tình yêu thì không có lỗi. Yêu một người thì không phải là tội, vì yêu là cứ yêu thôi, đâu ai có thể bắt mình yêu hay không yêu một người nào đó được. Yêu là tiếng nói của con tim, chứ không phải của lý trí, nên không có chuyện đúng sai. Thế nhưng, con người chúng ta không phải là hòn đảo đơn độc giữa đại dương nhân thế này. Ta có mối tương quan chằng chịt với những con người khác. Nếu tình yêu của chúng ta không đi vào con đường chung, ta không còn cách nào khác, ngoài việc chịu đau, cắt đứt đi tình yêu ấy. Thà có một cái kết đau, còn hơn là đau hoài mà không bao giờ kết.

Nếu ta phải chia ly vì hai người chọn hai con đường khác nhau thì việc ta nhớ đến lý do mình chia tay sẽ là một trợ lực rất nhiều giúp ta vượt qua được nỗi đau này. Chia tay là cách tốt nhất để hai người giải thoát cho nhau. Chia tay để trả lại cho mỗi người vùng trời riêng của mình. Chia tay vì hướng đến điều tốt đẹp của cả hai. Nỗi đau sẽ từ từ được hàn gắn nhờ niềm hy vọng vào một tương lai tốt đẹp sẽ dành cho cả hai.

Nếu hai người vẫn còn yêu nhau tha thiết, không thể sống cuộc sống này mà thiếu nhau và tình yêu ấy chẳng gặp ngăn trở gì nhưng chỉ vì những giận hờn, trách cứ vu vơ mà “trái tim tan vỡ” thì hãy chữa lành nó bằng cách chạy thật nhanh đến bên người mình yêu, nói thật nhiều lời ngọt ngào, ôm người ấy thật chặt và quyết tâm giữ người ấy đến cùng. Tình yêu cũng hệt như chiếc bình pha lê. Đẹp đấy, nhưng dễ vỡ vô cùng. Nó cần được nâng niu và chiều chuộng, cần được trân quý và yêu thương. Khi đã yêu, hãy gạt bỏ hết cái tôi, đừng luôn tỏ ra mình có lý. Một chút mềm và một chút nhẹ mới giúp giữ trọn vẹn tình yêu.

Nói chuyện lý lẽ với một người đang thất tình dường như là một điều vô ích. Chung quanh người ấy chỉ còn một nỗi u buồn mà thôi. Tuy nhiên, dù nỗi đau có thể làm chúng ta suy sụp, nó không thể và không nên là cái cắt đứt hết mọi nguồn lực và lý tưởng của ta. Nếu Trời đã không muốn tình yêu của ta nên trọn có lẽ là vì Ngài muốn dành cho ta một tình yêu khác trọn vẹn hơn. Nếu Trời muốn chúng ta chia ly, chắc là vì Ngài muốn dẫn chúng ta đến một cuộc hội ngộ khác sâu sắc hơn. Hãy cố gắng vượt qua nỗi buồn phiền vì còn có biết bao người đang cần đến ta, và bao nhiêu việc khác đang chờ ta hoàn tất. Tình yêu nam nữ đâu phải là cái duy nhất ta có trên đời. Ta còn có cha mẹ, anh chị em, bạn bè với bao nhiêu tình thương và trách nhiệm khác. Nếu vì chuyện tình yêu của riêng mình mà ta lãng quên bổn phận với họ, ta thật là người ích kỷ. Nếu chỉ vì một tình yêu không có đoạn kết mà ta cứ buồn phiền, thất vọng, lơ là đạo nghĩa và đánh mất tương lai, ta thật là con người yếu đuối và vô dụng quá chừng.

Để không phải dẫn đến một cái kết đau, có đôi khi ta cần phải tỉnh thức và cảnh giác thật nhiều trước khi đi sâu vào một tương quan nào đấy. Đừng để cảm xúc và những thú vui mau qua che chờ đôi mắt. Đừng để cái tôi cao ngạo làm hại bản thân. Hãy biết làm chủ mình trước những lời mời mọc và ngọt ngào của cám dỗ. Nếu nhận thấy mình và người ấy không có một tương lai tốt đẹp, đừng dấn thân vào quá sâu, để rồi tự mình làm hại mình, tự mình chuốc họa vào thân.

Khi tình yêu tan vỡ, đó là khi con tim của ta tan vỡ, khi mà mọi kỳ vọng và ảo tưởng của ta không còn. Nhưng đó cũng là lúc ta học cách đứng lên, dùng nghị lực để chữa lành con tim mình. Và cùng với một niềm hy vọng vào tương lai, ta tập làm lại cuộc đời, đi tìm một tình yêu mới mà Tạo Hóa dành sẵn cho ta ở một nơi nào đó.

***

Sau một tình yêu…

Đã yêu ai rồi thì nguyện sống nguyện chết cùng nhau, và nếu như có cả kiếp sau thì vẫn xin được làm đôi uyên ương không rời nhau nửa bước. Phải, yêu là thế, vì sự gắn kết của hai con tim trong một tình yêu không phải là kiểu người ta đặt hai con người với nhau; nó là cả một sự đồng điệu, đụng chạm đến tận cùng cái sâu thẳm nhất của con người. Hai người vốn dĩ chẳng quen biết gì nhau, không máu mủ với nhau, vậy mà khi đôi mắt gặp nhau, đôi tay chạm vào nhau, họ có cảm giác như mình đã quen nhau từ dạo nào, họ trở nên thân thiết và cảm thấy gần gũi nhau một cách lạ thường. Tình cảm nảy sinh từ sự gặp gỡ này có âm hưởng và mùi vị khác với tất cả mọi thứ tình cảm khác. Nó không giống tình phụ tử-mẫu tử, không giống tình bạn, không giống tình đồng hương, đồng chí. Nó có sức lôi cuốn cực kỳ mạnh mẽ, đến độ người ta có thể bất chấp tất cả để được ở với nhau, cùng nhau dựng xây cho mình một Thiên Đường riêng, kéo dài mãi mãi. Vậy nếu tình yêu vốn dĩ vô cùng vô biến, vĩnh cửu trường tồn, vô biên vô hạn, thì nó làm gì có cái gọi là “đàng sau”.

Ấy vậy mà trên thực tế, một tình yêu vĩnh viễn dường như chỉ là ao ước đơn phương của con người. Hạnh phúc khi được chìm ngập trong tình yêu lớn lao bao nhiêu thì nỗi đau mà người ta phải gánh chịu “đằng sau tình yêu ấy” càng kinh khủng bấy nhiêu. Con tim thì rạng nứt. Đất trời như sụp đổ. Mọi mộng ước vỡ tan. Có một chút tiếc nuối vì thiếu một cái gì đó để tình yêu được đi đến chỗ trọn vẹn. Có một chút khó chịu gì đó vì niềm tin bị bội phản. Có một chút ân hận gì đó vì mình đã trao gửi và hy vọng vào tình yêu này quá nhiều. Tình yêu tan vỡ là tất cả mọi thứ tan vỡ. Đã không đến được với nhau một cách tròn đầy thì mãi mãi chẳng thể nào trở nên bình thường như trước. Những kỷ niệm trở nên như vết dao đau xót. Bao lời đường mật càng nghĩ tới càng chua cay. Cứ bắt gặp một khung cảnh xưa là cứ hệt như cả quá khứ đang ùa về dày xéo. Đằng sau một tình yêu, sao thật kinh khủng và thê thương.

Thượng Đế muốn tình yêu được vĩnh cửu vì chính Người là tình yêu không thay đổi. Chỉ có con người, vì lòng ham muốn và ích kỷ, mà muốn đặt cho tình yêu một giới hạn, muốn hạ cấp giá trị cao quý của tình yêu. Hoặc, chỉ có con người là ngang bướng, không chịu chấp nhận giới hạn của mình, cứ nhắm mắt hùa theo một tình yêu vô lối nào đó, để rồi phải đối diện cái bức tường không thể vượt qua hay cái ngõ cụt không thể bước tiếp được nữa. Dẫu biết rằng tình yêu vốn không có lỗi, nhưng không phải mọi tình yêu đều có thể được chấp nhận. Con người không tồn tại trên đời chỉ để yêu một ai đó rồi thôi. Họ còn có tương quan với người khác, có trách nhiệm với gia đình. Con người bị ràng buộc bởi không gian và thời gian, bởi nền nếp, đạo đức, luân lý. Cái phức tạp của cuộc sống khiến cho ta có đôi khi phải khó chịu, nhưng ta chẳng thể làm gì được hơn. Chính bản thân tình yêu cũng không phải là cái người ta lãnh nhận một lần rồi “cài đặt chế độ tự động” cho nó. Không được chăm lo, không được vun trồng, không được nuôi dưỡng, tình yêu cũng sẽ chết đi và tan biến như làn mây mỏng, lúc nào ta thậm chí không thể nhận biết.

Đằng sau một tình yêu, nỗi đau đớn cứ khiến lòng ta bứt rứt. Ta, phần vì không muốn chấp nhận sự thật này, phần vì muốn nhanh chóng thoát khỏi cơn đau, nên cứ cố gắng để mà quên. Nhưng cái nghịch lý của cuộc đời lại nằm ở chỗ: càng cố quên thì lại càng thấy nhớ. Cố quên một điều gì đó nghĩa là đưa hình ảnh của nó vào lại trong tâm trí mình. Và như thế, nó chỉ có thể in hằn dấu vết của quá khứ trong lòng ta càng sâu. Bởi vậy, thay vì quên, ta hãy tập chấp nhận nó. Đừng luyến tiếc vì những gì đã xảy ra vì ta biết chắc rằng mình không thể đảo ngược thời gian hay níu kéo quá khứ. Hãy tự nhủ với mình rằng chuyện gì xảy đến là nó phải xảy đến như thế. Hãy cứ để mọi thứ tự nhiên diễn ra theo cách của nó và chấp nhận sự thật như nó là. Hãy tin tưởng vào sức chữa lành của thời gian và tập nhìn về quá khứ với một thái độ tích cực. Hãy tự chữa lành vết thương của mình bằng cách nhìn về những gì đã xảy đến với ta, cả những niềm vui và nỗi buồn, và nở một nụ cười nhẹ. Muốn quên, thì đừng cố quên, nhưng hãy nhìn về điều muốn quên với một thái độ khác.

Đằng sau một tình yêu yêu, ta thường trở về với con người mình. Nơi đó, ta thấy mình thật nhỏ bé giữa cõi đời này. Ta thấy mình không là chúa tể và không có đủ quyền năng để làm điều gì mình muốn. Ta thấy mình cũng chỉ là một thành phần nhỏ bé giữa thiên hà này và điều gì mà Tạo Hoá đã muốn cho xảy ra thì ta có gồng hết sức lực chống cự thì cũng như dã tràng xe cát biển Đông. Rồi ta cũng thấy được cái vô thường của cuộc sống, và có khi là cái lạnh lùng của nhân gian. Cả thế giới này vẫn cứ vận hành như thường, chứ cũng chẳng có chút ảnh hưởng gì khi ta đau khổ. Nỗi đau của ta, cũng chỉ là của ta. Có mấy ai vì chuyện ta thất tình, buồn bã mà suy sụp đâu. Rốt cuộc, ta vẫn phải đứng dậy mà sống cuộc sống của mình. Ý thức được như thế, ta thấy mình trưởng thành hơn rất nhiều. Học làm người cũng là học cách đón nhận những gì xảy đến với thái độ bình thản. Sau một tình yêu, những đau khổ sẽ có tác dụng như lực đẩy. Ta thấy mình cần phải mạnh mẽ hơn, cố gắng đứng dậy và mở lòng ra với một tình yêu khác, chân thực hơn và đẹp đẽ hơn, đang đợi mình phía trước.

***

Cuộc chiến trong tình yêu

Có những người cứ ngỡ rằng mình thành công, có sắc đẹp, tiền bạc là có thể có được trái tim của bất cứ ai mình muốn. Nhưng yêu và không yêu đâu phải do ai quyết định được. Tình yêu tự tìm đến, quấy phá mình rồi lại bỏ mình mà đi. Đâu có ai cấm cản được nó. Ta yêu ai, đâu có nghĩa là người đó cũng phải yêu ta. Hoặc, ta chẳng yêu người đó, nhưng người đó cứ cuống quýt lấy ta, biết làm sao! Người nào may mắn thì bắt gặp được một tình yêu từ phía của người mà mình yêu. Đó quả là một hạnh phúc to lớn vô chừng. Nhưng cuộc sống đâu có đơn giản như vậy. Yêu, không yêu, thù, hận, níu kéo… cứ đeo bám mãi con người. Có khi, chính nó cũng góp phần làm cho bức tranh nhân gian này đượm những nét vẽ buồn, du dương và vương vấn.

Những ai đang tìm kiếm cho mình một tình yêu, hãy tìm bằng sự chân thành và trong sáng của con tim, vì con tim là nơi mà tình yêu ngự trị. Đừng dùng đầu óc để bắt ép, toan tính, lèo lái nhằm chiếm đoạt tình cảm của người kia. Cái gì gượng ép cũng không tốt. Một tình yêu gượng ép chỉ có thể là một quả bom nổ chậm. Tình yêu cần một sự tự nguyện, để con tim tự rung nhịp đập của nó. Nó không thích ai trói buộc nó bằng những mệnh lệnh, cấm đoán, mua chuộc. Nếu sự chân thành của mình mà còn không đủ thì hãy thêm một chút kiên trì. Như thế, tình yêu mới có cơ hội nở những cánh hoa tươi đẹp của mình. Còn nếu không được thì hãy biết buông ra, đừng cố chấp, đừng giành giật cho bằng được, vì càng dùng thủ đoạn và vũ lực, tình yêu – dù sau đó có được đi chăng nữa – cũng đã là một đống đổ nát rồi. Dám buông tim mình ra khỏi một nơi không thuộc về mình thì một tình yêu đích thực khác dành cho mình mới có thể tìm tới.

Những ai đã tìm gặp được tình yêu cho mình rồi, hãy biết tạ ơn và gìn giữ nó, vì tình yêu hệt như một cô bé hay hờn dỗi và thích được nâng niu. Tình yêu sẽ ở lại bên người nào biết coi trọng nó, vun đắp cho nó, xây dựng nó hằng ngày bằng những quan tâm và lo lắng. Tình yêu không bao giờ chấp nhận ai coi thường nó, đứng bên này mà ngó sang bên kia. Muốn tình yêu được hoàn hảo, đừng chỉ biết ngồi đó mà ước mong hoặc đợi ai đó mang đến. Hãy đứng dậy và làm cho nó được nên trọn vẹn như những gì mình muốn. Chỉ một chút lơ là thôi, bạn có thể sẽ đánh mất tình yêu mãi mãi. Lúc đó, bạn có hối tiếc cũng đã muộn, chiếc bình đã vỡ sẽ không bao giờ lành lại như trước. Ai trân trọng tình yêu thì sẽ được tình yêu trân trọng lại.

Còn những ai bị rơi vào mê cung chằng chịt của tình yêu, hãy bình tĩnh lại và tìm cho mình một lối thoát. Đừng như con thiêu thân, nhắm mắt lao vào đống lửa đang cháy. Đừng vì những yếu đuối và ích kỷ mà đánh mất cuộc đời mình và làm tổn thương đến hạnh phúc của người khác. Được gì đâu khi ta cứ mãi tôn thờ một hình bóng mà ta biết chắc rằng sẽ không bao giờ mình sở hữu trọn vẹn. Được gì đâu khi ta cứ đem cuộc đời mà Tạo Hoá và cha mẹ tặng ban để theo đuổi một tình yêu không có tương lai và không lối thoát. Được gì đâu khi ta chen chân vào một cuộc tình khác, phá vỡ hạnh phúc của họ và cả của chính ta. Tình yêu ích kỷ lắm, nó muốn sự trọn vẹn, nó chỉ cần có hai, và từ hai người nó, nó hướng đến một sự sống khác. Một tình yêu theo kiểu vụng trộm chẳng thể nào mang đến cho người ta bình an và hạnh phúc được. Nó chỉ gieo rắc nỗi sợ hãi, một hy vọng mong manh và một nỗi buồn tê tái. Rồi cũng sẽ đến một lúc nào đó, khi sức chịu đựng không còn nữa, họ cũng đành phải buông tay. Lúc đó, nỗi đau càng lớn, và mọi điều tốt đẹp họ đã từng có cũng theo gió vỗ cánh bay.

Khi nhắc đến tình yêu, người ta xếp nó vào phạm trù cảm xúc, nhưng người ta cũng không được quên đi khía cạnh lý trí của tình yêu. Có những người cho rằng tình yêu không có lỗi nên cứ mặc sức mà sống theo những gì cảm xúc lôi cuốn. Thế nhưng, tình yêu cũng cần sự trật tự. Cái gì nằm ngoài khuôn khổ của trật tự thì trở nên hỗn loạn và chẳng đi đến đâu cả. Tình yêu vô trật tự là một tình yêu sai trái. Một tình yêu đúng nghĩa phải là một tình yêu giúp xây dựng và mang đến hạnh phúc chứ không phải nỗi bứt rứt và sầu lo. Tình yêu có quyền đến theo cách mà nó thường làm, nhưng con người phải biết đón nhận loại tình yêu nào giúp mình thăng tiến và loại trừ tình yêu nào làm sai lệch đường tìm hạnh phúc của mình và của người ta.

Có những người đã mộng tưởng thái quá. Họ dùng hết sức để níu giữ một tảng đá to. Tảng đá ấy vốn dĩ đang chuẩn bị rơi xuống vách. Nó chẳng muốn ở bên người kia, nhưng người kia cứ mãi dùng sức mình mà nắm giữ, hy vọng sẽ có thể biến đổi được định mệnh. Sau nhiều nỗ lực cố gắng, tảng đá vẫn cứ rơi, người kia cũng hết sức, đành buông bỏ: chân tay rách nát, thân thể rã rời. Rồi trong cơn tuyệt vọng, hụt hẫng và đau đớn ấy, họ cũng nhận ra một sự thật: điều gì đã không thuộc về mình, có níu kéo đi chăng nữa, rốt cuộc cũng phải buông, đau vẫn cứ đau, nhói vẫn cứ nhói. Mình nhỏ bé lắm, chẳng phải là chủ tể của vũ trụ, chẳng phải là người có quyền quyết định mọi sự ở thế giới này.

Đừng đổ lỗi cho tình yêu và sự yếu đuối của mình để che lấp sự mù quáng của bản thân. Hãy sống đúng với giá trị cao quý mà bản thân ta đáng được hưởng. Trong tình yêu, đừng quỵ luỵ ai cả, đừng giam hãm con tim mình trong một loại tình cảm nào đấy mà mình biết chẳng có tương lai. Hãy cứ chân thành và khảng khái giữa cuộc đời, tình yêu sẽ sự tìm đến với ta như một món quà Tạo Hoá ban tặng.

***

Gìn giữ hạnh phúc gia đình

Biết tìm đâu ra một cuộc sống hoàn hảo trên thế giới này? Ngày ngày, trên các mặt báo, diễn đàn, góc tâm sự, ta vẫn thấy nhan nhản những câu chuyện của nhân tình thế thái. Cuộc sống này vốn dĩ đã phức tạp, lịch sử của mỗi con người lại càng làm cho nó phức tạp hơn. Cuộc sống gia đình, lý tưởng mà nói, phải là tổ ấm, là bến bờ hạnh phúc, nhưng đâu đó vẫn còn biết bao góc khuất, mang đến bất hạnh cho người ta. Đàn bà có nỗi khổ của đàn bà, đàn ông có khốn khó của đàn ông, ai cũng có vấn đề của riêng mình, ai cũng có những bận tâm riêng, ai cũng có những khó khăn vây bủa. Phải làm sao để cuộc sống của mình được tốt đẹp hơn?

Đàn ông thường được cho là trụ cột của gia đình. Đã là đàn ông thì phải trở thành chỗ dựa cho tất cả mọi người. Tạo Hoá dường như đã đặt trên vai đàn ông một gánh nặng nhất cho tất cả các gánh là gánh trách nhiệm. Người đàn ông nào không thể chăm cho miếng cơm manh áo cho vợ và cho con là một người đàn ông hèn, kém cỏi, chẳng đáng mặt. Ý thức được như thế, các cánh mày râu phải vất vả làm việc, hy sinh nhiều thứ. Đàn bà có chuyện gì thì ngồi khóc, nhưng đàn ông thì đâu thể như thế được. Đàn bà có tâm sự thì dễ dàng tỏ bày, còn đàn ông đâu thể bạ ai cũng nói, chuyện gì cũng kể lể. Là trụ cột của gia đình cũng có nghĩa là người phải gánh chịu những phong ba bão táp, là người chịu thiệt đầu tiên, hứng lấy đầu tiên những gì xảy đến cho gia đình. Có những nỗi lo sâu kín đâu dễ gì tỏ bày, những tâm sự ngổn ngang chỉ biết thổ lộ ra qua làn khói thuốc.

Thế nhưng, lại có nhiều người phụ nữ cho rằng đó là bổn phận của đàn ông nên chẳng có gì phải thông cảm. Họ chỉ muốn được chồng nâng niu, tặng hoa, tặng quà, dẫn đi shopping, mua nhiều quần áo mỹ phẩm đẹp. Không được thoả mãn thì giận hờn, trách móc, so sánh chồng mình với người này người kia. Có nhiều phụ nữ còn không biết điều, nhẫn tâm phản bội chồng mình, lợi dụng tình cảm và niềm tin của chồng, để đi tìm khoái lạc cho bản thân. Dường như người ta chỉ thích đòi hỏi, mà lại thiếu sự cảm thông chia sẻ. Dường như người ta chỉ thấy mình thiệt thòi, mà chẳng bao giờ nhìn thấy giá trị của những gì mình đang có!

Phụ nữ sinh ra vốn dĩ đã chịu nhiều thiệt thòi. Thân phận mỏng manh, yếu đuối. Các định luật tự nhiên cũng chẳng phân biệt đối xử giữa đàn ông và đàn bà. Khi té xuống đất, chẳng phải vì là đàn bà nên sẽ bớt đau hơn, bớt trầy xước hơn. Nếu người phụ nữ nào lấy được một tấm chồng tốt thì quả là may mắn vô cùng, nhưng họ lại còn phải sống sao cho vừa lòng bố mẹ chồng, chị gái em gái chồng. Nếu chẳng may sai lầm một chút, họ sẽ phải chịu khổ cả đời. Biết bao nhiêu nền nếp gia phong và đòi hỏi đè nặng trên phụ nữ. Đàn ông có xấu một chút cũng chẳng sao, nhưng phụ nữ thì phải đẹp, xấu thì chẳng ai muốn nhìn. Đàn ông có cẩu thả một chút thì không sao, nhưng phụ nữ thì phải ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ. Đàn ông biết nấu ăn thì sẽ được khen hết lời, còn với phụ nữ thì đó là điều đương nhiên thôi. Đàn ông được nhiều người quan tâm thì được gọi là đào hoa, còn phụ nữ mà có nhiều mối quan hệ thì dễ bị đánh giá là lẳng lơ. Ít có người đàn ông nào phải chuẩn bị để làm rễ, còn người phụ nữ thì phải học thật nhiều để có thể làm dâu. Ai đã đặt ra những quy luật này để bắt người đàn bà phải chịu? Chẳng ai biết cả, chỉ biết rằng, khi ta sinh ra, nó đã là như thế rồi.

Vậy mà cũng có nhiều cánh đàn ông lại ỷ mình có sức mà bắt nạt phái nữ. Họ cho rằng mình có tiền thì cũng có quyền sai khiến phụ nữ theo ý mình. Họ cho rằng người phụ nữ kia lấy mình là phúc cho cô ấy, chứ không phải ngược lại. Họ chỉ xem phụ nữ như là công cụ để phục vụ mình, thoả mãn nhu cầu của mình. Có nhiều người đàn ông cho rằng những thành công mà mình đang có là do tài năng của mình. Họ chẳng đoái hoài gì đến những hy sinh âm thầm của người vợ ở nhà. Không có người giặt giũ, nấu nướng, chợ búa, chăm lo con cái và bố mẹ già, liệu họ có thể có thời gian mà vươn đến nấc cao của danh vọng không? Thái độ vô ơn làm cho người ta khép lòng lại. Một ngày nào đó, khi đã mất đi những gì mình đang thụ hưởng, người ta mới nhận ra rằng, cái mình đang có mà lâu nay mình cứ cho rằng là tự nhiên, hoá ra lại là một món quà quý giá vô cùng.

Cuộc sống vốn dĩ đã có đủ những khó khăn rồi. Tại sao con người lại cứ phải chất chồng thêm cho nó những gánh nặng nề khác? Giá như đừng có xung khắc giữa mẹ chồng và nàng dâu nữa thì người đàn ông sẽ yên tâm hơn biết bao khi xông pha giữa xã hội để mưu cầu hạnh phúc cho gia đình. Giá như người đàn ông đừng đi tìm thú vui ở ngoài kia, nhưng biết cảm thông hơn với người vợ ở nhà thì gia đình sẽ ấm êm biết mấy. Nếu người phụ nữ đừng quá cầu toàn, đừng quá đòi hỏi, nhưng biết luôn là hậu phương vững chắc cho người đàn ông thì làm sao mái ấm nhỏ có thể bị lung lay được.

Ai cũng có những khó khăn của riêng mình, nhưng nếu người ta biết mở lòng ra với nhau, thành thật với nhau, trong sáng với nhau, thì cuộc sống lứa đôi sẽ thoải mái hơn nhiều. Đừng bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho những yếu đuối của mình khi sa vào hết cạm bẫy này đến cạm bẫy khác của xã hội. Đừng bao giờ bào chữa cho mình bằng câu “đàn ông nào chẳng…”, “phụ nữ nào chẳng…” Tạo Hoá luôn ban cho con người những gì cần thiết để tìm đến hạnh phúc, nhưng nếu bạn không biết trân trọng, gìn giữ và làm nó thăng hoa, thì đừng trách sao hạnh phúc không mỉm cười với mình. Hãy thử một lần nhìn vào khuôn mặt người bạn đời, nhìn vào đôi mắt người ấy với tất cả sự nâng niu, bạn sẽ thấy rằng có được người ấy trong cuộc đời là niềm an vui không sao diễn tả nổi. Hãy hạ mình xuống một tí mà nâng niu giữ lấy, kẻo mất đi rồi thì hối tiếc cả đời.

***

Tìm hạnh phúc nơi đâu

Hạnh phúc là điều mà bất cứ ai trong chúng ta cũng khao khát có được. Mọi nỗ lực của ta trên hành trình dương thế này đều nhắm đến mục tiêu làm sao để có được hạnh phúc cho mình. Người ta cố gắng làm ra nhiều tiền cũng chỉ vì nghĩ rằng tiền có thể mang đến hạnh phúc. Người ta cũng tìm kiếm hạnh phúc của họ nơi việc đọc sách, nơi các thú tiêu dao, nơi âm nhạc, nơi việc theo đuổi các sở thích. Người ta muốn có người yêu là bởi vì khi yêu, ta cảm thấy hạnh phúc. Người ta thích sống trong những tiện nghi đầy đủ là bởi vì những điều ấy mang đến cho họ một sự thoải mái và an nhàn, một cảm giác êm đềm và khoan khoái. Hạnh phúc hay sự viên mãn của bản thân là cái luôn thu hút người ta hướng về, dù người ta có ý thức về nó hay không.

Cứ sự thường, ta tìm kiếm hạnh phúc nhờ cố gắng khỏa lấp những chỗ trống trong con người mình, ta tìm cách thỏa đáp những nhu cầu của bản thân, từ vật chất, tâm lý, tinh thần đến tâm linh. Đồng thời với việc bồi đắp cho mình, ta cũng tập bỏ đi những gì cản vướng, những thứ phù hoa, hay những điều không thuộc về mình để hành trang mang theo được nhẹ nhàng và thanh thoát. Ta chẳng biết hạnh phúc là gì, vì nó không phải là một thực thể vật chất nào đó để ta có thể nhìn thấy và nắm bắt bằng đôi tay. Hạnh phúc chỉ đơn thuần là một sự thăng hoa của cả con người, cho ta một cảm giác như thể mình được trở nên trọn vẹn là mình. Khi có được hạnh phúc, ta chẳng còn tha thiết gì nữa, chẳng còn mong chờ gì nữa. Hành trình ta đi là hành trình đi tìm hạnh phúc. Nhưng, phải đi tìm hạnh phúc nơi đâu?

Có những người mong chờ hạnh phúc ở một tương lai xa xôi nào đấy. Cuộc sống hiện tại đối với họ chỉ là những màn đen âm u, mệt mỏi. Họ phải lao đầu vào công việc để kiếm kế sinh nhai. Những khó khăn cứ từ đâu ập đến. Đời sống họ là một chuỗi ngày dài thê lương nặng nề. Họ muốn gạt đi nhưng không thể nào gạt nỗi. Họ cảm thấy chẳng thể yêu nỗi cuộc sống này. Họ kéo lê tình trạng thảm thương của mình từng ngày từng một, rồi chỉ biết mong chờ vào tương lai mà không bao giờ khởi sự đắp xây vận mệnh đời mình cho khởi sắc. Hạnh phúc mãi mãi chỉ là mong chờ và sẽ chẳng bao giờ đến với họ. Hạnh phúc ấy chỉ tồn tại trong những giấc mơ. Họ chờ hạnh phúc ở tương lai, nhưng tương lai chỉ là khái niệm người ta dành để nói về những gì chưa đến, những cái không nằm trong bàn tay ta.

Có những người đi tìm hạnh phúc ở một nơi xa xăm nào đấy. Họ chẳng có một mối dây gắn kết nào với những người chung quanh trong khi lại nỗ lực lấy lòng những người không quen biết ở những phương trời Đông Tây nào đấy. Bố mẹ, anh chị em trong nhà, họ chẳng mang chi đến, chẳng biết ngày sinh nhật bổn mạng, chẳng đoái hoài gì đến chuyện buồn vui. Còn đối với những người xa lạ ngoài đường, họ tận tình chăm lo, tặng quà, đi chơi vui vẻ. Cơ bản là bởi vì những người sống chung quanh không đánh giá cao họ, không dành cho họ những lời khen, không trân trọng họ cho bằng những người ngoài. Được lòng những người ở ngoài, họ tưởng mình là thánh, nhưng họ đâu biết rằng đâu có vị thánh nào đi tìm kiếm thứ hạnh phúc ảo như thế. Họ thèm khát những địa điểm đẹp, danh lam thắng cảnh ở chỗ này chỗ nọ, còn tại nơi mà họ đang sống, họ thấy nhàm chán và chẳng thiết tha chi.

Kỳ thực, chính lúc này đây và chính nơi đây mới là cuộc sống. Ngay khoảnh khắc hiện tại mà ta đang trải qua đây mới là điều quan trọng nhất trong cuộc hiện hữu của ta. Muốn có hạnh phúc, chúng ta phải tập yêu những gì đang xảy đến với ta, tập đón nhận thực tại hiện có như là một phần làm nên chính ta. Những khó khăn đang có đó, ta hãy đối diện và từ từ tìm cách giải quyết. Những tương quan đang rạn nứt đó, ta hãy tìm cách hàn gắn bằng đối thoại, thông cảm và tình thương. Ngay khi chúng ta yêu cuộc sống hiện tại của mình thì chính cuộc sống cũng sẽ yêu chúng ta. Mỉm cười với những gì đang ở bên ta đây, trong giờ phút này, là cách thức làm cho chúng ta thấy mình được đong đầy hồng ân nhất.

Một ông thương gia kia nhìn thấy một ngư dân nằm nghỉ ngơi, hóng gió trên chiếc thuyền. Ông ngạc nhiên và hỏi:

– Tại sao ông không thả câu để bắt cá?

– Tôi đã có đủ cá để dùng cho hôm nay rồi – bác ngư phủ trả lời.

– Tại sao ông không thả câu để có thêm nhiều cá nữa? – Ông thương gia hỏi lại.

– Tại sao?

– Nếu có thêm cá, ông có thể bán và có nhiều tiền.

– Có nhiều tiền thì sao?

– Lúc đó ông có thể xây nhà lớn, mua xe hơi và cuộc sống của ông sẽ sung túc.

– Sung túc rồi thì sao?

– Lúc đó ông có thể nghỉ dưỡng, an hưởng cuộc sống.

Bác ngư phủ cười nhẹ và ôn tồn trả lời:

– Chứ ông không thấy là nãy giờ tôi đang an hưởng cuộc sống của tôi sao?

Sống trong thời đại chạy đua này, chúng ta vẫn phải luôn làm việc để có được những tích trữ khi cần thiết, chứ không thể nhởn nhơ như ông ngư phủ kia được. Nhưng giá như ta có thể sống được một cuộc sống thong dong và tự tại như thế thì hay biết mấy. Đời ta sẽ nhẹ nhàng và thoải mái biết mấy.Câu chuyện trên có thể không làm những người kinh doanh thích thú, nhưng lại gửi gắm đến chúng ta một sứ điệp rất đơn giản mà lại rất thâm sâu về bí quyết kiếm tìm hạnh phúc.

Hạnh phúc hiện diện ngay lúc này, khi ta biết để cho lòng mình lắng xuống, nhẹ nhàng và đón nhận hết mọi điều đang hiện diện trước mắt ta, với những con người đang ở cận kề bên ta. Hạnh phúc hiện diện ngay tại nơi đây, nơi mà ta đang đặt đôi bàn chân và toàn bộ thân xác này, bởi vì, đây mới chính là nơi mà lúc này ta đang sống. Ở đây và bây giờ, chính là “nơi” ta tìm thấy hạnh phúc cho mình, chứ không phải ở nơi khác hay vào lúc khác. Nơi khác và lúc khác có thể là hạnh phúc, nhưng là của người ta, chứ không phải của chính bản thân mình.

Chúng ta vẫn thường tò mò là không biết có một cuộc sống sau cái chết hay không, nhưng chúng ta lại quên mất rằng chắc chắn có một cuộc sống trước cái chết. Đừng chờ đến sau khi chết mới được hạnh phúc nhưng hãy tập cảm nếm hạnh phúc ngay chính nơi cuộc sống này.

***

Hạnh phúc – cứu cánh tối hậu của đời sống luân lý theo lối tiếp cận của thánh Tôma Aquinô
Trần Hoàn Chỉnh, S.J.

Từ cổ chí kim, ý tưởng về hạnh phúc đã được ấp ủ trong tâm thức của nhân loại; khát vọng hạnh phúc cũng là một nhu cầu sâu thẳm và mãnh liệt, vốn dĩ đã ăn rễ sâu trong lòng người và gắn liền với bản tính con người, như thánh Tôma Aquinô đã nói: “Theo bản tính tự nhiên, tất cả mọi người đều khát mong hạnh phúc.”[1] Tuy nhiên, phải hiểu như thế nào về hạnh phúc? Có lẽ trả lời câu hỏi: “hạnh phúc ở đâu?” và “ai là người hạnh phúc?” thì dễ hơn; bởi lẽ trên thực tế tất cả mọi người đều mong muốn hạnh phúc, nhưng trên nguyên tắc lại bất đồng ý kiến với nhau về định nghĩa, cũng như phương thế thỏa mãn hạnh phúc; hay nói khác đi tuy dùng chung từ “hạnh phúc” nhưng người ta lại chẳng đồng ý với nhau về nội dung. Với ước mong tìm thấy phần nào những minh giải cho vấn nạn trên, trước hết bài viết này sẽ bàn về hạnh phúc dưới cái nhìn của một số trường phái triết học; thứ đến, sẽ tìm hiểu hạnh phúc xét như là cứu cánh tối hậu theo quan điểm của thánh Tôma Aquinô và cuối cùng sẽ đưa ra một vài suy tư nhận định cá nhân về đề tài này.

Hạnh phúc dưới cái nhìn của một số trường phái triết học

Hạnh phúc là điều mà ai cũng nhắm tới và mong muốn sở đắc, vì thế những ai có cao vọng hướng dẫn loài người đều cố gắng trình bày hạnh phúc và vạch ra con đường đạt đến hạnh phúc. Cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc thật đa dạng: người thì tìm hạnh phúc nơi đời sống hưởng thụ vật chất, người thì nơi đời sống an thái tinh thần; kẻ thì chỉ ước muốn sở đắc hạnh phúc cho bản thân; người thi mong ước sẻ chia hạnh phúc cho tha nhân…

Về mặt ngôn ngữ, hạnh phúc được xem là điều tốt đẹp đến với một người nào đó như tài sản, vui vẻ, may mắn… Lối hiểu này khiến người ta nhắm đến một thứ hạnh phúc nào đó rất cụ thể, thường là một hạnh phúc giới hạn. Tuy nhiên, con người không chỉ dừng lại ở một thứ hạnh phúc giới hạn, nhỏ lẻ nào đó, nhưng vẫn luôn khao khát một hạnh phúc trường tồn, cố định. Các triết gia, các nhà đạo đức, các nhà tôn giáo… đều nói đến hạnh phúc như một cái gì mà con người phải đạt tới như một lý tưởng…  Trong ngôn ngữ triết học, đối tượng của hạnh phúc là những giá trị; giá trị khả giác hay khả tri, hữu hình hay vô hình, xác thể hay tinh thần. Dưới đây là một số quan niệm về hạnh phúc.

Đối với những người theo chủ nghĩa duy khoái (hedonism), khoái lạc là cùng đích của cuộc sống và là sự thiện cao nhất. Họ đánh đồng hạnh phúc với khoái lạc, một thứ khoái lạc ở cấp độ cảm giác, một sự bình an thư thái của tâm trí và một tình trạng thanh bình tươi vui như Epicure khẳng định: “hạnh phúc là triệt để hưởng thụ đời này cho đến hơi thở cuối cùng.” Dĩ nhiên cái vui sướng, hoan lạc của Epicure không phải là cái khoái lạc của những kẻ buông thả cho nhục dục, nhưng hậu thế thường hiểu rằng Epicure chủ trương sống là hành lạc, theo nghĩa vật chất: “Một thân thể không đau, một tâm hồn không loạn: hạnh phúc thật của con người chí có bấy nhiêu thôi.”

Còn những người theo chủ thuyết duy ngã luân lý (Ethical Egoism) thì cho rằng mỗi người phải theo đuổi lợi ích cho riêng mình và trách nhiệm của người đó là chỉ nhằm thúc đẩy lợi ích của mình mà thôi. Họ xem lợi ích bản thân là điều thiện và từ đó đánh đồng việc thỏa mãn lợi ích cá nhân, thỏa mãn chình mình là hạnh phúc mà con người phải kiếm tìm.

Tiếp nối chủ nghĩa duy khoái, chủ nghĩa duy ngã luân lý, chủ nghĩa duy lợi với hai đại diện tiêu biểu là Jeremy Bentham và John Stuart Mill cho rằng sự sung sướng và hạnh phúc là điều mọi người mong muốn. Từ điểm này, các nhà duy lợi kết luận rằng toàn thể ý tưởng đạo đức về “cái tốt” có thể được hiểu thích đáng nhất dựa trên nguyên lý hạnh phúc mà họ gọi là “hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất” và họ hiểu rằng người ta đạt được “cái tốt” khi toàn thể sự vui sướng lớn hơn toàn thể các đau khổ “chịu đau khổ tối thiểu và hưởng khoái lạc tối đa”. Vì vậy, một hành vi là tốt nếu nó có ích trong việc đạt sự vui sướng và giảm bớt đau khổ.[2] Với phương châm “hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất”, chủ chuyết này nhắm đến mục tiêu phúc lợi xã hội (social welfare). Đây là điểm khác với chủ nghĩa duy khoái và duy ngã khi cho nói đến hạnh phúc tập thể thay vì hạnh phúc cá nhân.

Immanuel Kant nói về hạnh phúc như là tình trạng thoả mãn mọi nhu cầu, khuynh hướng cả bề mặt lẫn bề sâu, cả phẩm lẫn lượng như sau: “là sự thoả mãn tất cả mọi khuynh hướng của chúng ta, cả về trương độ (nghĩa là số lượng) lẫn cường độ (nghĩa là mức độ) và về kỳ gian (nghĩa là kéo dài trong thời gian)”. Dĩ nhiên, khác với các trường phái trước, Kant cho rằng hạnh phúc không bao giờ là đối tượng trực tiếp của một sự tìm kiếm, nhưng là phần thưởng kèm theo một hành vi xứng hợp, đúng với mục đích. Kant cho thấy: hạnh phúc là hậu quả của việc tuân giữ luật luân lý. Điều phải thực hành là tuân giữ lề luật và hành động theo những Mệnh lệnh tuyệt đối.  Nhưng khi một người đã biết tôn trọng lề luật theo đúng lương tâm – vì biết giá trị của lề luật – thì đương nhiên có một niềm vui xâm chiếm tâm hồn.

Chủ nghĩa tiến bộ (Pregressism) nhìn cùng đích của con người như là một cuộc tiến hóa hướng đến một tình trạng dù chưa biết rõ nhưng ở một mức độ cao hơn, tiến bộ hơn. Trong tình trạng này, con người sẽ tìm kiếm những sự thăng tiến và triển nở không ngừng trong đời sống của mình như châm ngôn của các môn thể thao thế vận hội: “Altius, Fortius, Celerius – Cao hơn, mạnh hơn, nhanh hơn.” Nói cách khác, chủ thuyết này nhìn giá trị như cùng đích (ở số nhiều), như những đỉnh cao mà con người phải vươn tới và vươn xa hơn… 

Tóm lại, trong quá trình cố gắng trình bày hạnh phúc và vạch ra con đường đạt đến hạnh phúc, một số trường phái triết học dù đã xem hạnh phúc là điều mà mọi con người đều khao khát nhắm đến, tuy nhiên các trường phái này khi nhìn hạnh phúc là những giá trị như khoái lạc, lợi ích cá nhân, phúc lợi xã hội… dứoi lăng kính của hiệu quả (consequence) đã phần nào giới hạn và bó hẹp, thậm chí đánh mất ý nghĩa đích thực của hạnh phúc. Vậy có tồn tại hạnh phúc xét như là cùng đích tối hậu? Làm thế nào có thể đạt được hạnh phúc này? Chúng ta phần nào tìm thấy được những soi sáng cho những vấn nạn này qua lối tiếp cận của thánh Tôma Aquinô.

Hạnh Phúc xét như là Cùng Đích Tối Hậu theo lối tiếp cận của thánh Tôma Aquinô

Thánh Tôma không phủ nhận những giá trị mà các chủ thuyết nhắm tới, nhưng những hạnh phúc mà họ chủ trương rốt cuộc chỉ là những giá trị trần thế, tạm bợ và chóng qua mà thôi. Ngài cho rằng những giá trị thế gian thấp kém hơn con người cũng như chính con người không có khả năng đem lại hạnh phúc đích thực.

Trước hết, phản bác lại những người chủ trương hạnh phúc cốt tại khoái lạc, lợi ích của con người, phúc lợi chung… hay nói khác đi hạnh phúc phần nào nghiêng theo những giá trị thế gian và lạc thú khả giác.  Thực vậy, thánh Tôma cho rằng những thứ gì nằm bên dưới cấp độ con người như những điều tốt của thế gian: giàu có, gia đình, danh dự, địa vị, quyền lực, ảnh hưởng…  đều không thể làm cho con người hạnh phúc nếu không muốn nói rằng đôi khi chúng mang đến bất hạnh cho con người. Theo ngài những của cải trần gian như thân xác, tiền bạc, danh vọng… không thể là đối tượng của hạnh phúc, vì những vui thú mà chúng đem đến không thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu của con người. Và nếu người ta có thấy hạnh phúc nào trong việc thụ hưởng hiện tại, thì cũng bị đe dọa bởi những tai họa như đau ốm bệnh tật, và cuối cùng là cái chết. Rốt cuộc, những thứ giá trị đó chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh, chỉ là cho con người chứ không phải con người cho chúng.[3]

Bên cạnh đó, thánh Tôma cũng phản bác luôn những chủ trương cho rằng con người tự mình có thể đem lại hạnh phúc cho chính mình. Quả vậy, theo Tôma, những phẩm chất như sự hoàn hảo của thể xác (sức khỏe, sắc đẹp, kĩ năng và những khả năng thể lý khác), không mang lại hạnh phúc cho con người. Cũng vậy, sự hoàn hảo của linh hồn cụ thể là kiến thức (sự hoàn hảo của trí tuệ) và nhân đức (sự hoàn hảo của ý chí) chỉ là phương tiện không thể thiếu để giúp đạt đến hạnh phúc, nhưng tự thân chúng không phải là hạnh phúc. Ngay cả sự hoàn hảo của cả linh hồn lẫn thể xác vốn thể hiện ở sự khoái lạc (sự kết hợp giữa khoái cảm giác quan và tri thức) và tiến bộ của loài người cũng không mang lại hạnh phúc cho con người.[4] Do đó, khác với quan niệm của Aristotle, thánh Tôma cho rằng bản thân con người và việc thể hiện những chức năng, khả năng tự nhiên của con người mà thôi thì không đủ để đưa dẫn họ tới hạnh phúc hoàn hảo, nói cách khác loại đạo đức học tự nhiên tính theo kiểu của Aristotle chưa đủ chứ không phải là không hoàn bị.[5]

Tóm lại, theo Tôma, của cải, khoái lạc, quyền lực, sức khỏe, kiến thức… tất cả đều là những điều tốt và là đối tượng hợp pháp của sự ham muốn, nhưng chúng không thể tạo ra hạnh phúc sâu xa nhất cho con người vì chúng không có tính chất của cái thiện phổ quát mà linh hồn con người tìm kiếm. Suy cho cùng, chúng chỉ là những đích điểm gần, đích điểm ở giữa và đích điểm xa để dẫn tới một cùng đích khác, hay nói cách khác chỉ là những phương tiện mà thôi.

Vậy đâu mới là điều khả dĩ làm cho con người được hạnh phúc? Với những lập luận dựa trên luật tự nhiên và tư tưởng Kitô giáo, thánh Tôma trả lời: điều gì cao quí, cao trọng hơn con người. Đó là Thiên Chúa. Nói khác đi, chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc đích thực, hạnh phúc toàn hảo, cái thiện tối thượng và cũng chính là Cùng đích Tối hậu của đời sống con người. Thực vậy, đối với thánh Tôma, hạnh phúc xét như là Cùng đích Tối hậu hiểu theo nghĩa vừa raditus (xuất phát ra) vừa exitus (tới đích điểm). Nói cách khác hạnh phúc là một cái đích tối hậu để đi tìm nhưng cũng là một cõi cội nguồn để trở về.

Giống như Aristotle, thánh Tôma cho rằng cái đích hay cứu cánh của con người có liên hệ mật thiết với hạnh phúc, vốn là đối tượng tìm kiếm của đạo đức học hay luân lý học. Thực vậy, hành vi nhân linh, tức là những hành động xuất phát do ý muốn đã được suy nghĩ (ý chí và lý trí), một cách tất yếu được thực hiện vì mục đích.[6] Hành trình khao khát và tìm kiếm hạnh phúc là một hành vi nhân linh. Vì thế, để đạt hạnh phúc, người ta phải hoàn thành mục đích của mình, một mục đích tối hậu, một đích nhắm siêu nhiên vốn vừa là nguồn mạch vừa là cái đích tối thượng của bản chất con người. Nhưng đâu là cách để con người đạt đến hạnh phúc như Tôma chủ trương?

Theo thánh Tôma, vì con người được tạo dựng để đạt tới cái đích thật là hạnh phúc vĩnh cửu, ngoài hạnh phúc trần thế, nên phải có luật có thể hướng dẫn họ đến cùng đích tối hậu siêu nhiên này. Trước hết, thánh Tôma cho rằng nơi con người, ý chí cùng với quyền năng của lý trí điều khiển hành vi con người và hướng con người tới sự hoàn thành điều thiện theo luật tự nhiên: “làm lành lãnh dữ.” Nghĩa là toàn bộ các dục vọng của con người tìm được thỏa mãn, và quá trình thỏa mãn đòi hỏi phải có những chọn lựa giữa các đối tượng khác nhau. Sự lựa chọn này phải được thực hiện bởi ý chí với sự hướng dẫn của lý trí. Nếu chọn lựa đúng, con người đạt hạnh phúc. Nhưng không phải mọi chọn lựa đều đúng. Vì vậy ý chí tự nó không thể luôn luôn hành động đúng; phải có trí tuệ hướng dẫn.

Tuy nhiên, theo Tôma, trí tuệ cũng không phải là nguồn nhận thức cuối cùng; luật tự nhiên thì chưa đủ để giúp con người đạt đến cứu cánh tối hậu. Chính vì vậy mà con người cần phải được hướng dẫn, được trợ giúp bởi luật của Thiên Chúa. Ở đây, Tôma đề cập đến ân sủng và chân lý mặc khải của Thiên Chúa như là một quà tặng để bảo đảm rằng mọi người biết họ phải làm gì để đạt được cả cùng đích tự nhiên lẫn cái đích siêu nhiên của họ. Thực vậy, theo Tôma, luật tự nhiên chỉ biểu thị sự hiểu biết của lý trí con người về điều thiện, nhờ đó trí tuệ hướng dẫn ý chí điều khiển các dục vọng và đam mê của con người, giúp con người đạt cái đích tự nhiên của họ và đạt được các đức hạnh tự nhiên cơ bản là can đảm, tiết độ, công bằng và khôn ngoan.[7]  Dĩ nhiên những đức hạnh này không đương nhiên đem đến hạnh phúc. Vì hạnh phúc không bao giờ là đối tượng trực tiếp của một sự tìm kiếm như chủ trương của phái Khắc kỷ khi đánh đồng đức hạnh với hạnh phúc,  nhưng là cái được “ban cho”, được “trao tặng”. Trong khi đó, luật Thiên Chúa đến trực tiếp từ Thiên Chúa qua mặc khải là món quà ân sủng của Ngài, nhờ đó con người được hướng tới cùng đích siêu nhiên của họ, sau khi nhận được các nhân đức đối thần (Tin – Cậy – Mến), không phải thông qua các năng lực tự nhiên vì những nhân đức này được phú ban cho con người do ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa.

Hơn nữa, mục đích không phải hoàn toàn nội tại đối với hành vi bởi nó có một phần là nguyên lý và một phần là cùng đích của hành vi. Như thế, hạnh phúc xét như là cùng đích tối hậu của đời sống luân lý của con người không chỉ đóng vai trò là đích đến mà còn là nguyên lý, là cội nguồn để con người tìm về. Do đó, tự nơi sâu thẳm của con người đều có một động lực thôi thúc họ, mời gọi họ tìm về với cội nguồn Chân – Thiện – Mỹ chứ không phải chỉ nhìn hạnh phúc theo kiểu hiệu quả hay mục tiêu nhắm tới như các trường phái trên. Như thế, con người không chỉ biết nỗ lực tiến lên theo kiểu của chủ nghĩa tiến bộ, nhưng tự nơi con người, họ đã được thông phần với Thiên Chúa là hạnh phúc do chính yếu tính của ngài. Do đó, nếu hiểu hạnh phúc là nhân đức thì chỉ có đức ái mới có thể được xem là cùng đích. Bởi lẽ, đức ái là quà tặng Thiên Chúa ban cho con người khi họ được sinh ra để nhờ đó họ được Chúa yêu và có khả năng yêu Chúa và tha nhân. Tuy nhiên không vì thế mà con người đương nhiên được hạnh phúc, nhưng đức ái nơi con người phải trở về với cội nguồn, với cõi đi về là chính Thiên Chúa để không ngừng được lớn lên, được triển nở và đạt đến đức ái trọn hảo trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, tức trở nên một với Chúa.

Tóm lại, đối với thánh Tôma, Thiên Chúa chính là hạnh phúc xét như là cùng đích tối hậu và một khi còn ở trần gian này, không ai có thể đạt được hạnh phúc đích thực và hoàn hảo mà chỉ là hạnh phúc bất hoàn hảo mà thôi.[8]

Một vài suy tư của người viết

Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, hai từ hạnh phúc vẫn còn là nỗi trăn trở, ước mong, khao khát cháy bỏng mà con người mong đạt đến. Thế nhưng, có không ít người chỉ dừng lại an hưởng một thứ hạnh phúc giả tạo vốn được tìm thấy trong những của cải trần gian, lạc thú khả giác hay những giá trị tinh thần. Thực vậy, ngày nay những châm ngôn như “danh – lợi – dục”, “tiền – tình – tài”… xuất hiện nhan nhản trên cửa miệng nhiều người, trên phương tiện truyền thông… Có vẻ như người ta đang muốn quay trở lại với các chủ thuyết duy khoái, duy ngã, duy lợi và duy tiến bộ… vốn đã được khoác bằng một vỏ bọc mới thường vẫn được gọi tên là: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ và chủ nghĩa vật chất.

Ý thức được sự phức tạp của vấn đề, người viết không dám phủ nhận hoàn toàn quan điểm của những chủ thuyết xem hạnh phúc là sự thỏa mãn khoái lạc, lợi ích cá nhân hay một thứ lợi ích theo kiểu “hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất.” Tuy nhiên phải chăng những chủ thuyết này vì quá đặt nền tảng trên tính hiệu quả vốn sặc mùi duy nghiệm sao? Liệu có phải là hạnh phúc thật chăng khi hạnh phúc đó chỉ đến với một cá nhân hay ít nhất là một tập thể nào đó? Liệu có quyền nại đến chiều kích hiệu quả để chỉ vì đạt được hạnh phúc mà bất chấp sử dụng mọi phương tiện xấu chăng? Những giá trị thế gian và lạc thú khả giác đó đã thật sự là điều thiện hảo mang tính phổ quát chưa?

Thiết nghĩ tất cả những thứ hạnh phúc xét như là cùng đích của những chủ thuyết nói ở phần trên thực là chỉ là những phương tiện mà thôi hoặc chí ít cũng chỉ là những loại đích điểm mang tính tạm thời, ngắn hạn, trung gian mà thôi. Nói cách khác, sự an lạc của thể xác hay tinh thần suy cho cùng cũng chỉ là những nẻo đường đưa dẫn đến một hạnh phúc cao hơn, toàn vẹn hơn, đó là chính Thiên Chúa.

Tuy nhiên, vấn nạn đặt ra là đâu phải mọi người đều chấp nhận Thiên Chúa theo mặc khải Kitô giáo là Hạnh phúc, là Cùng đích Tối hậu. Thực ra, chính thánh Tôma cũng đã lường trước điều này khi ngài đưa ra Ngũ đạo chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Bằng lập luận triết học, ngài đã cho thấy rằng không phải chỉ riêng người Kitô hữu mới hướng đến Cùng đích Tối hậu mà tất cả mọi con người có lý trí. Bên cạnh đó, một thụ tạo hay mọi thụ tạo đều không thể đáp ứng những đòi hỏi, khao khát của con người. Hạnh phúc theo Boetius là có tất cả mọi của cải; theo Aristotle là biết sự thật và yêu sự thiện; theo Platon là chiêm ngắm vẻ đẹp lý tưởng; theo Kant là thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu… Tất cả mọi lối giải thích và định nghĩa của triết học đều đưa đến kết luận là: con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc nơi điều gì đó cao vượt hơn mọi thụ tạo, nơi Hữu thể Tuyệt đối, là Chân lý, Thiện hảo và Xinh đẹp. Nói cách khác hạnh phúc con người là tìm về Chân – Thiện – Mỹ. Thực vậy, Kant tìm một nền tảng hữu lý cho vấn đề đạo đức, cuối cùng cũng phải giả thiết sự hiện hữu của Thiên Chúa, như nguyên nhân tối cao, toàn năng, toàn tri của lề luật luân lý và là tác nhân của trật tự tự nhiên. Vấn đề hạnh phúc là vấn đề chính yếu của luân lý không thể giải quyết mà không đưa đến nguyên nhân và nguồn gốc của mọi sự: Thiên Chúa Toàn Năng và Hằng Hữu.

Dĩ nhiên, để đạt đến hạnh phúc đích thực này không phải nhất nhất đều bắt mọi người theo Kitô giáo, vì với tư cách là con người, nền tảng nghĩa vụ đạo đức được tìm thấy trước hết trong bản chất của họ là “làm thiện tránh ác”; do đó với chân lý đạo đức này con người với ý chí được hướng dẫn bởi lý trí và tự do, có thể lên đường tìm đến và trở về hạnh phúc đích thực. Hơn nữa, một điều quan trọng không thể bỏ quên sự kiện là chính Thiên Chúa, với cách riêng của Ngài vẫn hằng soi sáng và đưa dẫn con người tìm về Ngài bằng ân sủng và tình yêu của Ngài, dù họ là ai và theo tôn giáo nào.

***

Niềm vui của cha – Yêu thương của mẹ

Cô giáo hỏi một bé trai:

Bố của con bao nhiêu tuổi rồi?

Dạ, năm tuổi.

Hả, làm sao như thế được?

Cậu bé ôn tồn trả lời:

Dạ, thì từ khi có con rồi thì bố mới là bố chứ!

Câu trả lời của cậu bé, tuy đơn sơ nhưng lại hàm chứa một ý nghĩa sâu xa vô cùng. Người Việt Nam ta có câu: “Sinh con rồi mới sinh cha. Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.” Phải, chẳng ai được gọi là “cha” khi người đó không có tương quan với đối tượng khác gọi là “con”. “Người con” phải hiện hữu trước thì mới có “người cha”. Cha mẹ tạo thành con, nhưng con cũng sinh ra cha mẹ theo nghĩa đó.

Làm một người đàn ông đàn bà khác với việc trở thành một người cha người mẹ. Người ta có thể là một người đàn ông đàn bà, nhưng để có thể là cha là mẹ, phải có một mầm sống khác hiện diện trong họ, từ họ và cho họ. “Con” chính là dấu ấn thiêng liêng làm thăng hoa người đàn ông và đàn bà lên một cảnh vực mới. Huyền nhiệm này đã được Tạo Hoá đặt định và không ai có thể xoá bỏ hay thay đổi được. Nhờ có “con”, chữ “bố” và “mẹ” bỗng trở nên cao quý đến lạ thường. Con người nhận được sứ mạng làm cha làm mẹ cho một sự sống mới từ Tạo Hoá. Nhận lãnh sứ mạng này cũng hệt như bước vào một thế giới nhiều màu sắc: ban đầu là ngỡ ngàng và hạnh phúc, rồi sau đó là bao nỗi lắng lo từ rõ ràng đến không tên nối đuôi nhau kéo đến tận cuối cuộc đời.

Ngày biết được có một mầm sống đang lớn lên trong mình, khó có thể dùng từ nào để diễn tả niềm vui mừng lúc đó của đôi vợ chồng. Con cái là món quà trời ban và đôi vợ chồng nhận lãnh nó như nhận lãnh một hồng phúc. Cùng với mầm sống ấy, thiên chức làm cha làm mẹ cũng thành hình. Có người đã nhỏ ra những giọt lệ vì nỗi vui mừng không sao đong đếm được này. Họ ngỡ ngàng vì không thể nào hiểu nỗi đứa con của mình đang lớn lên như thế nào và sẽ trở nên ra sao. Vì yêu con, mẹ chia sẻ và hy sinh cả thân thể mình. Cơ thể con đang tạo hình, chính là nhờ máu thịt của mẹ. Chín tháng mười ngày cưu mang con, mẹ ăn không ngon, ngủ không yên, nhan sắc của tiêu hao không ít. Ăn uống phải kiêng khem, đi đứng phải cẩn thận để không có ảnh hưởng xấu tác động đến con. Đến định kỳ, bố mẹ đưa con đi bác sĩ để biết xem con mình đã phát triển đến đâu, có bình thường không. Trong khi chờ đợi con chào đời, mẹ và bố đi khắp nơi để tìm mua cho con những bộ đồ nhỏ nhắn, rồi ngồi suy nghĩ cho con một cái tên thật đẹp thật hay, tưởng tượng xem con giống bố hay giống mẹ, sau này lớn lên con sẽ làm gì. Bố còn chuẩn bị cho con một chiếc nôi xinh xắn, trang trí căn phòng con sao cho thật nhiều màu sắc… Sự hiện diện của con sao quá đỗi quý giá! Được làm bố làm mẹ là nhờ có con!

Niềm hạnh phúc ấy sẽ luôn mãi tồn tại nơi bất kỳ người bố người mẹ nào. Nhưng càng ngày, nó càng trở nên vô hình hơn, êm đềm và ẩn sâu hơn, chứ không còn nồng cháy như trước. Đó là bởi vì bố mẹ phải gánh trên người những trách nhiệm và nỗi lắng lo. Sinh con ra không phải là xong chuyện nhưng là khởi đầu cho một hành trình dài đầy gian nan và mệt mỏi. Khi con còn bé, cơ thể chưa quen với khí hậu thời tiết, bố mẹ phải lo lắng cho sức khoẻ của con. Phải làm sao để con được ngủ ngon giấc. Chỉ cần con ho một tiếng là trời đất như muốn sụp đổ trước mắt mọi người. Con lớn lên một chút, bố mẹ phải suy nghĩ để chọn trường cho con học. Phải vất vả làm việc nhiều hơn để có tiền mà chu cấp cho con những điều tốt nhất. Phải chăm lo quan sát con mình xem nó học hành thế nào, giỏi cái gì, yếu cái gì, có được giáo dục tốt, có ngày càng chăm ngoan không, có thói hư tật xấu gì không. Phải làm sao để con vừa lớn về thể chất cũng lớn về tinh thần, trưởng thành, sống hoà thuận với anh chị em và yêu thương người khác.

Mệt mỏi nhất là khi con cái bước vào độ tuổi dậy thì và bắt đầu đua đòi theo chúng bạn. Khi còn bé, chúng quấn quýt bên mình. Giờ đây, chúng coi mình như những rào cản cho tự do của chúng. Chúng bỏ bê việc học rồi mải mê theo đuổi một thần tượng nào đấy. Chúng thích sống ngoài đường để thoải mái với bạn bè hay thích nhốt mình trong phòng riêng để làm bất cứ điều gì mình thích. Chúng muốn bung mình ra khỏi tiếng lồng vì cho rằng đó mới là cuộc sống của chúng. Bao lời khuyên nhủ từ kinh nghiệm của bố mẹ, chúng không nghe. Càng dạy dỗ lại càng bị cho là cổ hũ, nhiều chuyện. Dùng bạo lực thì sợi dây gắn kêt thêm gãy đỗ. Biết là không nên giữ con cái lại trong vòng tay mình, nhưng thả chúng ta thì không biết có điều gì nguy hại xảy đến với con không. Liệu con có bị ai lừa gạt không? Liệu con có bị những người bạn xấu dụ dỗ không? Liệu con có làm điều gì dại dột ảnh hưởng đến cả cuộc đời không? Liệu con có gặp tai nạn gì không? Bố mẹ nào có con gái thì nỗi lo này càng nhiều hơn nữa.

Ngay cả khi con đã lớn và chuẩn bị tung cánh bay muôn phương, bố mẹ vẫn chẳng thể nào thôi lo nghĩ. Bao nhiêu câu hỏi cứ ập đến từng đêm từng hôm, khi cánh tay đưa lên trán để vỗ về giấc ngủ. Nơi phương xa, liệu con có hạnh phúc? Liệu con có gặp được những người bạn chân thành? Liệu công việc của con có thành công trôi chảy? Liệu có ai đó xuất hiện trên đường đời mang đến hạnh phúc cho con? Ngày ngày nhớ mong con, nhưng không dám gọi điện làm phiền con. Muốn đi thăm con, nhưng lại sợ con bận công việc. Nhớ con lắm, nhớ da diết nhưng cũng chỉ dám chôn chặt trong lòng để không làm con chùn bước. Bao trang nhật ký và những tấm hình cũ ngày xưa của con cứ thế bị lật tới lật lui mà gợi lại ký ức của tình thương. Chẳng biết tự bao giờ, bố mẹ lại trở thành những “người nói dối chuyên nghiệp” và sống trong những mâu thuẫn của lòng mình như thế: “đói” lại nói “no”, “nhớ” lại nói “không”, “buồn” lại nói là “bình thường”, “đau” lại nói là “không sao”!

Khi đã trở thành cha-mẹ một lần rồi, sẽ chẳng bao giờ bỏ xuống khỏi đôi vai thiên chức này được nữa. Ngay cả khi con đã trở thành bố mẹ, con vẫn mãi là đứa con thơ trong mắt đấng sinh thành. Niềm hạnh phúc vì có con hiện diện trong đời chưa bao giờ mất, nhưng những lo lắng về con cũng không bao giờ ngừng nghỉ. Một khoảnh khắc làm cha-mẹ là cả đời làm cha-mẹ. Đó là một trách nhiệm, mà cũng là một sứ mạng, là nỗi khổ nhưng cũng là niềm vui, một niềm vui lạ kỳ khi lấy đau khổ của con là đau khổ của mình, thành công của con là thành công của mình, hạnh phúc của con là hạnh phúc của mình.

Người ta trở thành cha-mẹ khi truyền sự sống mình cho con, mà không chỉ thế, họ truyền cả sự hiện hữu của mình nữa: họ tiêu hao đi như cây nến để con được thắp sáng giữa đời. Ấy thế mà họ vẫn vui, vẫn hạnh phúc. Bởi vậy nên chẳng tội nào đáng bị trời tru đất diệt cho bằng tội bất hiếu với cha mẹ và “ai yêu mến cha mình thì đền bù tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được một kho tàng” (Hc 3,3-4).

Có bao nhiêu người con trên trái đất hiểu được những tâm tư này của bố mẹ?

***

“Khi đôi ta về một nhà”

Khi đôi ta về một nhà, anh tự nhủ rằng mình không còn phải đi đâu để tìm hạnh phúc nữa, vì hạnh phúc ấy đã hiện hữu nhãn tiền trước mắt anh đây rồi. Qua bao nhiêu tháng năm mòn mỏi tìm kiếm, rốt cuộc anh đã có lại được chiếc xương sườn bị lạc mất của mình bấy lâu. Hệt như một cơ duyên của Tạo Hoá, anh với em, từ hai phương trời xa lạ, lại vô tình gặp nhau, có cảm tình với nhau rồi bỗng dưng cảm thấy không thể sống thiếu nhau dù chỉ trong một khoảnh khắc. Anh không biết thế nào là tình yêu, anh không đủ ngôn từ để định nghĩa nó. Anh không phải là thi sĩ hay nhạc sĩ để có thể dùng những áng thơ hay ca từ diễm lệ mà mô tả tình yêu. Anh chỉ biết nhìn em, ngắm em, ôm em vào lòng rồi hét to lên với thiên hạ rằng: “Tình yêu chính là người con gái tuyệt đẹp đang ở trong vòng tay của tôi đây!”

Khi đôi ta về một nhà, ngôi nhà ấy sẽ trở thành thiên đường tại thế của chúng ta. Anh biết mình không còn là chàng thanh niên lêu lỏng như ngày xưa nữa. Anh biết mình bắt đầu gánh trên vai một trách nhiệm rất lớn. Anh phải bỏ bớt những tương quan không cần thiết bên ngoài, và cả những thói quen không hợp với đời sống lứa đôi của chúng ta. Anh phải cố gắng làm việc thật nghiêm chỉnh để lo cho đời sống của chúng ta. Nhà chúng ta sẽ có một mảnh vườn nhỏ và nơi đó sẽ có những cánh hoa thật xinh. Góc nhỏ bên này sẽ là một hồ cá nhỏ, còn góc bên kia sẽ là nơi lũ nhỏ quậy phá của chúng ta chơi đùa. Như thế, mỗi sớm mai, khi ánh nắng đầu ngày vừa len qua ô cửa, mùi hương hoa sẽ phủ khắp cả không gian, thơm và đẹp như tình yêu của chúng ta vậy. Cả nhà ta cùng sẻ chia với nhau những bữa cơm trong tiếng vui cười rộn rã hân hoan.

Khi đôi ta về một nhà, chúng ta sẽ có một đàn con thật đáng yêu. Con gái của chúng ta sẽ đẹp như thiên thần, hệt như em vậy. Còn con trai của chúng ta chắc chắn sẽ là một bản sao tuyệt vời của chồng em. Chúng là kết quả của tình yêu chính ta, là món quà mà Chúa tặng thưởng cho chúng ta. Chúng là vật báu của chúng ta nên chúng ta có một trách nhiệm rất lớn với chúng. Chúng sẽ gọi em là “mẹ”, và sẽ gọi anh là “bố”. Hạnh phúc biết bao, em nhỉ! Anh và em phải làm việc nhiều hơn để có điều kiện lo cho chúng. Ta sẽ dạy chúng biết vâng lời, biết học hành chăm ngoan, biết lễ phép với người lớn. Anh và em sẽ dạy chúng biết làm dấu thánh giá trước mỗi bữa ăn, biết đọc kinh dâng mình mỗi buổi sáng, còn buổi tối thì cả gia đình ta sẽ cùng quây quần bên nhau tạ ơn Chúa. Chúng ta sẽ cùng nhau đi lễ vào mỗi Chúa Nhật, hoặc bất cứ ngày nào trong tuần mà chúng ta rảnh. Cuối tuần, cả gia đình ta sẽ cùng nhau về thăm ông bà nội, ông bà ngoại, họ hàng thân quen hoặc có thể đi xem phim, đi công viên, sở thú. Tiếng cười nói sẽ luôn rộn rã trong căn nhà nhỏ bé này, và niềm hạnh phúc cứ ngày thêm to lớn.

Khi đôi ta về một nhà, chúng ta sẽ chia sẻ cuộc sống với nhau, chắc cũng sẽ có những lúc không vừa lòng, không ưng ý. Có những khi vì áp lực công việc, vì những hiểu lầm này nọ, anh lớn tiếng với em, anh bỏ bê cơm nước, anh không dành nhiều giờ cho em, anh không thể tặng em những món quà hay những đoá hoa xinh đẹp như ngày còn hẹn hò, em hãy hiểu cho anh nhé. Giả như những điều đó có xảy ra, không có nghĩa là anh không còn yêu em nữa. Hãy tin anh: với anh, em là tất cả! Anh sẽ cố gắng để trở thành một trụ cột vững chắc cho gia đình, anh sẽ vươn vai để che chở cho em và con. Nhưng nếu có lúc nào đó, khi thấy anh mệt mỏi, em hãy nâng đỡ anh bằng sức mạnh nơi con tim hiền dịu của em. Hãy sát cánh bên anh, chứ đừng để anh bơ vơ một mình chống chọi với bão tố cuộc đời. Có những khi hai ta không cùng một tiếng nói, dù gì thì gì, qua ngày hôm sau, hãy làm hoà với nhau, em nhé! Và khi em nghe lời xin lỗi từ anh (dù có khi anh không có lỗi), em phải ngã vào lòng anh, ôm lấy anh và mỉm cười với anh, chứ đừng gạt anh ra khỏi cuộc đời, đừng xem như anh không tồn tại. Anh sẽ đau khổ lắm đấy, em biết không!

Đôi ta về một nhà nghĩa là chúng ta đã trở nên một rồi. Cuộc sống lứa đôi không dễ chút nào đâu! Anh nghe người lớn nói thế, mà anh cũng nghĩ như thế! Tình yêu đâu phải là cái có sẵn đó rồi cứ tồn tại như vậy giữa hai con người hợp tính hợp tình nhau mọi đàng. Nó cần được xây dựng và vun đắp từ những quan tâm nhỏ bé, những lúc đút miếng cơm cho nhau, những lúc chậm mồ hôi trán cho nhau, những lúc nhường nhịn nhau một tí, những lúc chịu đựng nhau một tí. Chúng ta tuy yêu nhau đậm sâu, mà chúng ta cũng khác nhau nhiều điều lắm. Nhưng Chúa đã tạo dựng chúng ta cho nhau và giúp nhau nên thánh. Em biết không, anh vẫn luôn tin rằng, Chúa dựng nên anh không hoàn hảo vì Ngài sẽ dựng nên em để bù vào cái “không hoàn hảo” đó của anh. Thế nên, đã về một nhà rồi thì đừng bao giờ bước ra khỏi căn nhà đó mà không có người kia nắm tay thong dong dạo bước, nhé em!

***

Hôn nhân không là mồ chôn tình yêu, cũng chẳng là bến đỗ!
Jos. Nguyễn Minh Vương, S.J.

Thiên hạ đang kháo nhau về câu nói nổi tiếng: “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu!” Điều này phản ánh một thực tế đang lên. Thật vậy, trong cuộc sống hiện đại hôm nay, người ta dễ e ngại, thậm chí “rùng mình” khi nghe hai chữ “kết hôn”. Lập gia đình đối với họ là một thách đố, thậm chí là gánh nặng. Để bảo toàn tự do của bản thân, nhiều người chọn sống đời một mình. Đó là lý do ta dễ gặp thấy tình trạng “bà mẹ một con” trong đời thực và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, cũng có những người chấp nhận kết hôn vì coi hôn nhân là chuyện phải làm, đôi khi chỉ vì gia đình và xã hội. Với người có niềm tin, có khi họ kết hôn đơn giản chỉ vì giáo lý dạy phải làm như thế. Nếu đúng thật hôn nhân là mồ chôn tình yêu, những phản ứng nêu trên hoàn toàn dễ hiểu và đáng cảm thông. Nhưng sự thể có phải vậy chăng?

Đúng thật hôn nhân là mồ chôn, nhưng không phải chôn tình yêu mà là chôn đi khoảng thời gian chuẩn bị của tình yêu. Nó có thể chôn đi những xúc cảm tình ái những ngày hò hẹn, tức là những cảm xúc bay bổng của một thời làm tình nhân. Khi cưới nhau về, cả hai sẽ phải trở nên thực tế hơn để sống cuộc sống chung mới mẻ của hai người. Việc bớt đi những mơ mộng có lẽ là điều dễ hiểu.

Nói được, những ngày hò hẹn chỉ là thời gian để tập yêu mà thôi. Để rồi khi bước qua ngưỡng hôn nhân sau khoảnh khắc gửi trao câu thề “chung sống trọn đời”, thời gian tập yêu ấy khép lại, vĩnh viễn lùi trôi vào quá khứ, tựa như nấm mồ đóng chặt, chôn vùi những ngày hẹn ước. Nếu thời gian đầu chỉ để tập yêu, thì trong đời sống hôn nhân người ta mới bắt đầu yêu thật. Họ khởi sự cử hành tình yêu như một cuộc dâng hiến trọn vẹn, xét về thời gian, không gian lẫn mọi chiều kích khác của cuộc sống. Tình yêu cốt ở hành động và phải được hiện tại hóa ở đây và lúc này là vì lý do đó.

Vì người ta chỉ yêu đúng nghĩa khi cưới nhau về, nên cuộc hôn nhân không phải là bến đỗ của tình yêu. Đúng hơn phải nói, hôn nhân là bến khởi hành của tình yêu. Đó là một hành trình mới với hành trang sắp sẵn đã được chuẩn bị trong những ngày hò hẹn. Hành trang ấy có thể là hiểu biết về nhau, sự lắng nghe, đón nhận, thêm chút chịu đựng và hy sinh… Và nếu chưa tích lũy tạm đủ hành trang vì thời gian tập yêu quá chóng vánh, cả hai sẽ dễ chới với và buông tay chèo khi bước lên thuyền tình hôn nhân ấy.

Hôn nhân không là mồ chôn tình yêu, nó cũng chẳng phải là bến bờ hạnh phúc. Thế nên xin đừng ngộ nhận kẻo rơi vào chủ quan khinh suất. Nếu đã tin tưởng việc tiến đến hôn nhân là một chọn lựa kỹ càng, ai ai cũng phải sẵn sàng đối diện với cuộc yêu đúng nghĩa, kèm theo đó là vô vàn những thách đố khó khăn. Ngay cả việc bên nhau 24/24, thấu tỏ những tính hay nết xấu của nhau cũng là một vấn đề nan giải cần thời gian để học quen dần.

Nhưng lỡ có ai đó dù thiếu hành trang đã vội “nhắm mắt sang sông” thì sao? Xin đừng lo lắng. Thiết nghĩ họ cần tiếp tục học yêu trên hành trình sống đời hôn nhân của mình. Thực tế không có ai chắc chắc họ đã chuẩn bị đủ mọi sự cho cuộc hôn nhân của mình. Vì hôn nhân là một tiến trình đi tới, nên trong đời sống chung, chắc hẳn các thành viên gia đình cần liên lỉ mở ra để tiếp tục học hỏi, rút kinh nghiệm, đón nhận nhau, sửa lỗi nhau và thay đổi chính mình, mong tìm hạnh phúc cho gia đình. Bến bờ hạnh phúc ấy chỉ có thể đạt đến bởi những ai kiên trì chèo và chèo vững tay.

Và nếu một khoảnh khắc nào đó đôi tay trở nên rệu rã và ý chí hoàn toàn suy kiệt, xin hãy ngỏ lời với Đấng Tình Yêu, thừa nhận mình bất lực và khiêm tốn xin Ngài giúp đỡ, chắc chắn Ngài sẽ đưa tay ra, dẫn lối thuyền tình hôn nhân về bến.

(dongten.net)