Suy niệm mỗi ngày, Tuần 5 Thường niên, năm chẵn

40 lượt xem

Suy niệm mỗi ngày, Tuần 5 Thường niên, năm chẵn

THỨ HAI – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1V 8,1-7.9-13; Mc 6,53-56
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marco
 
Khi ấy, Đức Giêsu và các môn đệ sang bờ bên kia biển hồ, đến đất Ghênêxarét và cập bến. Vừa ra khỏi thuyền, dân chúng nhận ra Người. Họ chạy khắp vùng ấy và bắt đầu khiêng những kẻ đau yếu đặt trên giường chõng đến bất cứ nơi nào nghe tin Người đang ở đó. Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt những bệnh nhân nơi quảng trường và xin Người cho họ ít ra được chạm tới tua áo của Người; và tất cả những ai chạm tới Người đều được chữa lành.
Suy niệm
Ngày nay, những người Do Thái rất trân trọng “Bức Tường Than Khóc” tại Giêrusalem. Họ thường kéo nhau đến đây cầu nguyện rất đông đảo. Bởi vì đây chính là phần tường còn lại của Đền Thờ mà vua Hêrôđê ngày xưa đã xây cất, và Đức Giêsu cũng đã từng chiêm ngắm. Đồng thời, đây cũng là vị trí của ngôi Đền Thờ Giêrusalem đầu tiên mà vua Salômôn đã cho xây cất vào khoảng năm 960 trước Công Nguyên, như bài đọc I hôm nay đã kể lại.
Trước khi qua đời, vua Đavít đã trối lại cho Salômôn, người con của mình, là hãy xây một Đền Thờ cho Thiên Chúa. Và Salômôn, sau đó, đã thực hiện ý nguyện của cha mình. Ông đã cho xây một ngôi Đền Thờ vĩ đại để kính thờ Thiên Chúa Giavê. Ông đem đặt vào đó Hòm Bia Giao Ước. Trong khi thánh hiến ngôi Đền Thờ mới, có một đám mây bao phủ Đền Thờ. Đám mây này đã từng xuất hiện khi dân Do Thái còn đi trong sa mạc tiến về Đất Hứa. Nó là biểu tượng Thiên Chúa hiện diện giữa Dân Người. Và giờ đây, đám mây đó lại xuất hiện và bao phủ Đền Thờ trong lúc các tư tế cử hành nghi lễ. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa đã ưng nhận của lễ của vua Salômôn và chính Người đã thánh hiến ngôi Đền Thờ ấy.
Từ nay, Đền Thờ trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa Dân Người. Do đó, Đền Thờ Giêrusalem được coi như trung tâm đời sống của dân Israel, là thánh điện duy nhất, và là nơi biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa. Cũng vì vậy, hằng năm, người Do Thái phải hành hương lên Giêrusalem ba lần, nhất là vào dịp lễ Vượt Qua. Ngày nay, mặc dù Đền Thờ không còn nữa, nhưng người Do Thái vẫn tiếp tục đến cầu nguyện trước “Bức Tường Than Khóc”. Còn ngay trên nền cũ của Đền Thờ Giêrusalem, hiện nay có một thánh đường Hồi giáo, và người Hồi giáo cũng thường đến đây cầu nguyện, bởi vì họ coi đây là một trong những thành phố thánh của họ. Trong khi đó, các Kitô hữu lại đến những nhà thờ khác trong thành Giêrusalem để cầu nguyện. Lý do là đối với họ, sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa không còn gắn với Đền Thờ Giêrusalem, nhưng gắn liền với thân xác phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Từ chân lý ấy, thánh Phaolô rút ra kết luận khi dạy rằng: Thiên Chúa cũng hiện diện nơi các Kitô hữu, bởi vì họ là Thân Thể của Đức Kitô; họ là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Chính vì thế, trong Tin Mừng, đặc biệt trong đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Đức Giêsu rất quý trọng con người, nhất là những người đau khổ và bệnh hoạn. Sau khi Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông, Đức Giêsu và các môn đệ muốn sang bờ bên kia biển hồ để nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng khi đến nơi, họ lại gặp dân chúng đang chờ đợi. Các ngài không thể lẩn tránh họ. Các ngài tiếp tục chăm sóc họ, còn việc nghỉ ngơi được dời lại lúc khác. Thánh Marcô kể rằng: khi hay tin Người đến, người ta chạy khắp vùng, khiêng những kẻ ốm đau trên giường chõng đến cho Người, và tất cả những ai chạm tới Người đều được chữa lành.
Còn chúng ta, chúng ta có biết quý trọng những người anh chị em của mình hay không? Chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tâm hồn các tín hữu, cũng như nơi chính tâm hồn chúng ta hay không? Ước gì chúng ta ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tâm hồn mình và nơi những người chung quanh, để biết yêu thương và kính trọng họ. Chính ý thức này giúp chúng ta tránh những tư tưởng, lời nói và việc làm xúc phạm đến bản thân cũng như đến tha nhân.
Giờ đây, trong Thánh Lễ, Đức Giêsu sẽ biến đổi bánh và rượu trở thành Mình và Máu Người, để ngự trong tâm hồn chúng ta, hầu nhắc nhở rằng tâm hồn con người là đền thờ của Thiên Chúa. Nhờ đó, chúng ta biết kính trọng và yêu thương nhau, như thể chúng ta đang kính trọng và yêu thương chính Người.
Xét mình
1. Tôi có ý thức rằng tâm hồn mình là đền thờ của Chúa Thánh Thần để sống xứng hợp với ơn thánh hay chưa?
2. Tôi có biết nhận ra và kính trọng sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những người đau khổ, yếu đuối và những người chung quanh tôi không?
THỨ BA – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1V 8,22-23.27-30; Mc 7,1-13
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, những người Pharisêu và một số kinh sư từ Giêrusalem tụ họp lại quanh Đức Giêsu. Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa với đôi tay không thanh sạch, nghĩa là chưa rửa tay. Người Pharisêu và tất cả người Do Thái, theo truyền thống của tiền nhân, không ăn gì khi chưa rửa tay cẩn thận; từ chợ về, họ cũng không ăn khi chưa thanh tẩy, và còn giữ nhiều tập tục khác như rửa chén bát, bình lọ và đồ đồng. Người Pharisêu và các kinh sư hỏi Người: “Sao các môn đệ của Thầy không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay không thanh sạch mà dùng bữa?” Người trả lời họ: “Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, như có lời chép rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta. Chúng thờ phượng Ta thật vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân. Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của loài người.” Rồi Người nói tiếp: “Các ông khéo gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa để nắm giữ truyền thống của các ông.”
Suy niệm
Sau khi vua Salômôn đã xây cất Đền Thờ Giêrusalem, là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và Dân của Người, là nơi để dâng tế lễ và cầu nguyện, ông đã cung hiến Đền Thờ cho Thiên Chúa. Bài đọc I hôm nay ghi lại những lời cầu nguyện của ông trong nghi lễ cung hiến ấy. Trước hết, chúng ta thấy ông ca ngợi sự cao cả và siêu việt của Thiên Chúa. Còn ông, mặc dù là vị vua cai trị cả một dân tộc, nhưng đã khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ là thụ tạo bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa.
Tiếp đó, vua đưa ra những lý lẽ giúp chúng ta hiểu sự cao cả của Thiên Chúa. Đối với ông, Thiên Chúa cao cả không có nghĩa là một Đấng ở xa vời, hay một Đấng chỉ đầy uy quyền khiến con người khiếp sợ. Nhưng Thiên Chúa cao cả vì Người chấp nhận tự hạ để ở gần con người, để kết thân và lập giao ước với con người. Như vậy, Thiên Chúa siêu việt lại trở nên gần gũi. Thiên Chúa vừa cao cả, vừa thân cận với con người.
Quả thật, vua Salômôn đã không lầm khi thốt lên những lời cầu nguyện như thế. Thiên Chúa ở trên trời cao, nghĩa là Đấng con người không thể đạt tới. Người là Thiên Chúa ẩn mình, con người khó nhận biết và không thể nắm bắt trọn vẹn. Thiên Chúa vượt trên tầm hiểu biết của chúng ta. Vì thế, con người cần những trung gian để đến với Thiên Chúa. Ngôi Đền Thờ được coi như phương thế biểu lộ và giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.
Chúng ta biết Thiên Chúa hiện diện khắp mọi nơi, nhưng con người vẫn cần những nơi chốn đã được thánh hiến để dễ dàng cầu nguyện. Những nơi ấy cụ thể hóa sự hiện diện của Thiên Chúa và giúp chúng ta gặp gỡ Người. Rồi về sau, chúng ta nhận ra rằng chính Đức Giêsu, với thân mình của Người, mới là Đấng Trung Gian duy nhất và đích thực giữa Thiên Chúa và loài người. Người là Đấng cụ thể hóa sự hiện diện của Thiên Chúa, là Đền Thờ đích thực được xây dựng lại trong ba ngày. Chính Đức Giêsu là Đấng ban lề luật mới, hướng dẫn con người đạt tới Thiên Chúa.
Thế nhưng, qua bài Tin Mừng hôm nay, những người Pharisêu đã không lắng nghe lời Đức Giêsu. Họ chỉ muốn trung thành giữ các truyền thống của tiền nhân, như rửa tay trước khi dùng bữa, hay giữ nhiều tập tục khác như rửa chén bát, bình lọ và các đồ dùng. Đức Giêsu khiển trách họ, vì họ đã thêm thắt và thổi phồng những quy định về sạch và dơ mà ông Môsê đã đặt ra. Qua lời dạy ấy, Đức Giêsu cũng muốn các Tông đồ, những nhà truyền giáo tương lai, có cái nhìn phổ quát. Người muốn họ hiểu rằng khuôn khổ hẹp hòi của lề luật cũ không còn phù hợp với sứ mạng mới mà Người thiết lập.
Các ông sẽ được sai đi đến với muôn dân, thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau, rất khác với môi trường Do Thái. Vì thế, các ông phải chú ý đến điều cốt yếu, đừng để mình bị ràng buộc bởi những tập tục phụ thuộc, kẻo trở thành cản trở cho những người thành tâm thiện chí, vốn không có những thói quen và luật lệ ăn uống như người Do Thái, khi họ muốn gia nhập Hội Thánh.
Thánh lễ mà chúng ta sắp cử hành cũng nhắc nhở rằng Đức Giêsu đã đổ máu mình để cứu chuộc tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng dân Do Thái. Nhờ đó, chúng ta nhận ra tính phổ quát của ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho toàn thể nhân loại.
Xét mình
1. Tôi có đang đặt nặng những hình thức bên ngoài mà quên đi điều cốt yếu là lòng mến và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa không?
2. Tôi có mở lòng đón nhận mọi người với tinh thần phổ quát của Tin Mừng, hay vẫn còn giữ những định kiến và giới hạn hẹp hòi trong đời sống đức tin?
THỨ TƯ – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1V 10,1-10; Mc 7,14-23
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marco
Khi ấy, Đức Giêsu lại gọi đám đông mà nói với họ rằng: “Mọi người hãy nghe tôi nói đây mà hiểu cho rõ: không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế; nhưng chính những gì từ trong con người xuất ra mới làm cho con người ra ô uế.” Khi Người vào nhà, xa đám đông, các môn đệ hỏi Người về dụ ngôn ấy. Người nói với các ông: “Cả anh em nữa, anh em cũng không hiểu sao? Anh em không thấy rằng không có gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế, vì những thứ đó không đi vào lòng, nhưng vào bụng rồi đi ra ngoài?” Như thế, Người tuyên bố rằng mọi thức ăn đều thanh sạch. Rồi Người nói: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, phóng đãng, ganh tị, phỉ báng, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa ấy đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế.”
Suy niệm
Từ xa xưa, các nền văn hóa Đông phương thường thao thức tìm kiếm sự khôn ngoan, bởi vì sự khôn ngoan giúp con người biết cư xử thận trọng và khéo léo để có thể thành công trong cuộc sống. Trong bối cảnh bài đọc I hôm nay, chúng ta thấy rằng vào thời vua Salômôn, người ta quan niệm: ai thành công về của cải vật chất thì được coi là người được Thiên Chúa yêu mến và chúc phúc. Triều đại của vua Salômôn quả thực đã thành công trong lãnh vực thương mại; hơn nữa, danh tiếng về sự khôn ngoan của nhà vua đã khiến nữ hoàng Saba phải vượt đường xa đến thăm.
Quả vậy, giữa các quốc gia vùng Cận Đông thời bấy giờ, Salômôn là một vị vua quan trọng. Ông đạt được nhiều thành công, một phần nhờ di sản chính trị và quân sự của vua cha Đavít để lại, phần khác nhờ sự khôn ngoan và khéo léo trong đường lối cai trị của chính ông. Tiếng tăm lẫy lừng ấy đã khiến nữ hoàng Saba, vị nữ vương của một xứ xa xôi ở phía nam Ai Cập, phải đích thân đến kiểm chứng. Trong Thánh Kinh, cuộc gặp gỡ giữa vua Salômôn và nữ hoàng Saba mang ý nghĩa sâu xa: nó cho thấy Salômôn đã thực thi một chính sách ngoại giao cởi mở và khôn ngoan. Ông đã ký kết giao ước với vua Pharaon Ai Cập, mời gọi các chuyên viên ngoại quốc tham gia xây dựng Đền Thờ cho Thiên Chúa, và thiết lập những giao ước thương mại với thành Tyrô. Cao quý hơn cả, ông đã biết đưa những thành quả của sự khôn ngoan nhân loại thời bấy giờ vào trong đời sống tôn giáo của dân Israel.
Chính vì thế, Sách Thánh đã ca ngợi vua Salômôn rằng: sự khôn ngoan của ông lớn hơn sự khôn ngoan của tất cả các dân miền Đông và hơn cả sự khôn ngoan của Ai Cập (x. 1V 5,9-14). Lời ca tụng này vừa nhắm đến trí tuệ cá nhân, vừa nói lên nghệ thuật cai trị khéo léo của nhà vua. Tuy nhiên, đối với những người có đức tin, điều cốt yếu không nằm ở khả năng tự nhiên của Salômôn, nhưng ở chỗ đó là hồng ân Thiên Chúa ban, hồng ân mà chính ông đã khiêm tốn cầu xin khi mới lên ngôi. Quan niệm này cũng gặp thấy nơi Sách Sáng Thế, khi các thánh sử không ca tụng sự khôn ngoan của các luật sĩ triều đình Ai Cập, nhưng đề cao ông Giuse, người quản lý tài giỏi đã nhận được sự khôn ngoan từ chính Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta đi sâu hơn vào ý nghĩa của sự khôn ngoan đích thực. Sự khôn ngoan ấy hệ tại ở việc nhận ra đâu là điều cốt yếu trong Lề Luật của Thiên Chúa để tuân giữ. Giáo huấn của Đức Giêsu mang tính phổ quát, dành cho mọi dân tộc và mọi nền văn hóa. Trái lại, nhiều lề luật và tập tục của người Do Thái lúc bấy giờ mang tính khắt khe và hạn hẹp, đặc biệt liên quan đến những quy định về sạch và dơ. Khi Đức Giêsu khẳng định rằng không phải những gì từ bên ngoài vào làm cho con người ra ô uế, nhưng chính những gì từ trong lòng con người phát xuất mới làm cho con người ra ô uế, Người đã mở ra một cái nhìn rộng lớn và giải phóng con người khỏi những ràng buộc tỉ mỉ, dễ biến lề luật thành gánh nặng nô lệ.
Những lời dạy này của Đức Giêsu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đất đều có những tập quán ăn uống và sinh hoạt khác nhau. Nếu cứ bám chặt vào những quy định phụ thuộc, Tin Mừng sẽ trở thành rào cản thay vì là con đường cứu độ. Khi tuyên bố rằng mọi thức ăn đều thanh sạch, Đức Giêsu không chỉ nghĩ đến người Do Thái, nhưng còn hướng đến tất cả những người ngoại giáo sau này sẽ gia nhập Hội Thánh. Người đặt trọng tâm vào việc hoán cải nội tâm, nơi con tim con người, chứ không phải vào những hình thức bên ngoài.
Giờ đây, trong Thánh Lễ, Đức Giêsu, qua thừa tác vụ của linh mục, tiếp tục tái diễn hy tế thập giá của Người để ban cho chúng ta Thần Khí của Người, là nguồn mạch của sự khôn ngoan cao siêu và tuyệt diệu. Xin Chúa ban cho chúng ta sự khôn ngoan của Thánh Thần, để chúng ta biết tái khám phá những điều cốt yếu của Tin Mừng, và trung thành bước đi trên con đường mà Chúa đã vạch ra cho chúng ta.
Xét mình
1. Tôi có đang chú trọng quá nhiều đến những hình thức bên ngoài mà lơ là việc thanh luyện tâm hồn và hoán cải nội tâm không?
2. Tôi có xin Chúa ban cho mình sự khôn ngoan của Thánh Thần, để biết phân định điều cốt yếu trong đời sống đức tin và sống theo Tin Mừng cách tự do và chân thành không?
THỨ NĂM – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1V 11,4-13; Mc 7,24-30
Tin mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marco
Khi ấy, Đức Giêsu đứng dậy, đi đến miền Tia và Xiđôn. Người vào một ngôi nhà và muốn không ai biết, nhưng Người không thể ẩn mình được. Một phụ nữ có con gái bị thần ô uế ám, vừa nghe nói về Người, liền đến sấp mình dưới chân Người. Bà là người Hy Lạp, gốc Syrophênixi. Bà xin Người trừ quỷ cho con gái bà. Người nói với bà: “Cứ để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con.” Nhưng bà đáp lại: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con ở dưới gầm bàn cũng được ăn những mảnh vụn của con cái.” Người nói với bà: “Vì bà nói thế, bà về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà.” Bà về nhà thì thấy đứa trẻ nằm trên giường, và quỷ đã xuất.
Suy niệm
Chính sách ngoại giao cởi mở của vua Salômôn khó có thể thực hiện nếu nhà vua không chấp nhận những nhượng bộ từ phía mình. Đặc biệt, những mối liên hệ thương mại rộng rãi đôi khi được củng cố bằng các cuộc hôn nhân mang tính chính trị. Vì thế, nhà vua có nhiều bà vợ ngoại giáo. Khi các bà đến Giêrusalem, họ cũng mang theo việc thờ cúng các thần minh của dân tộc mình cùng với các tư tế riêng.
Vào thời bấy giờ, việc nhà vua có nhiều vợ còn được xem như dấu chỉ của sự giàu có và uy thế. Tuy nhiên, việc đưa các bà vợ ngoại giáo vào đất Israel đã gây nguy hại cho niềm tin độc thần của dân Chúa. Sự hiện diện của các thần ngoại khiến dân chúng dễ nghĩ rằng Thiên Chúa của họ chỉ là một vị thần giữa nhiều vị thần khác. Như thế, địa vị duy nhất và tuyệt đối của Thiên Chúa bị relativ hóa trong tâm thức dân Israel. Hơn nữa, cùng với việc du nhập các thần ngoại là những tập tục phóng túng và lệch lạc, lôi kéo dân Chúa xa rời giao ước và rơi vào con đường tội lỗi.
Người xưa còn quan niệm phụ nữ gắn với những sức mạnh huyền bí khó kiểm soát, nên nhiều nơi xuất hiện các thực hành ma thuật liên quan đến sinh sản. Vì thế, các bà vợ ngoại giáo của Salômôn vẫn trung thành với nghi lễ của dân tộc họ. Tất cả những yếu tố ấy dần dần làm suy yếu đời sống đức tin tinh tuyền của dân Israel.
Chính vì kinh nghiệm lịch sử đau thương đó, người Do Thái về sau đặt ra những quy định rất khắt khe: tránh tiếp xúc thân mật với dân ngoại để khỏi bị coi là ô uế. Nếu phải đi qua miền dân ngoại, khi trở về họ còn giũ bụi chân trước khi bước vào đất thánh, như dấu chỉ không muốn mang theo điều gì bị xem là ô uế.
Trong bối cảnh ấy, Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu bước vào vùng đất dân ngoại. Người không làm điều đó vì khinh miệt dân ngoại, trái lại, kế hoạch cứu độ khởi đi từ dân Israel rồi mở rộng đến muôn dân. Khi nói: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con,” Đức Giêsu không có ý xúc phạm. Từ ngữ “chó con” ở đây diễn tả những con vật sống trong nhà, được chủ chăm sóc, hàm ý rằng dân ngoại cũng được ở gần bàn tiệc cứu độ.
Điều đáng chú ý là đức tin khiêm tốn và kiên vững của người phụ nữ Syrophênixi. Bà chấp nhận vị trí của mình, nhưng vẫn tin tưởng vào lòng thương xót của Đức Giêsu. Chính thái độ khiêm nhường và lòng tin mạnh mẽ ấy đã mở ra cánh cửa ân sủng: con gái bà được chữa lành. Như thế, “chó con” cũng được chia sẻ bánh cùng lúc với con cái, nghĩa là ơn cứu độ không còn bị giới hạn, nhưng được ban cho mọi dân tộc.
Qua biến cố này, Đức Giêsu mặc khải dung mạo Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Đấng không loại trừ ai biết chạy đến với Người trong đức tin. Lịch sử cứu độ đi từ tuyển chọn đến phổ quát, từ Israel đến toàn thể nhân loại.
Giờ đây, trong Thánh Lễ, Đức Giêsu tiếp tục ban cho chúng ta “bánh bởi trời” là chính Mình và Máu Người trong Bí tích Thánh Thể. Chúng ta được gọi là con cái trong nhà, được mời đến bàn tiệc của Chúa. Vì thế, chúng ta được mời gọi biết trân trọng hồng ân cao quý này, dọn lòng xứng đáng để đón nhận.
Xét mình
1. Tôi có để những thỏa hiệp với “các thần tượng” của thời đại—danh vọng, tiền bạc, hưởng thụ—làm suy yếu lòng trung thành của tôi đối với Thiên Chúa không?
2. Tôi có đến với Chúa bằng đức tin khiêm nhường và bền bỉ như người phụ nữ ngoại giáo, tin rằng lòng thương xót của Chúa vượt trên mọi ranh giới không?
THỨ SÁU – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1 V 11,29-32; 12,19 – Mc 7,31-37
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô 
 
Khi ấy, Đức Giêsu rời miền Tia, đi qua Siđôn, rồi băng qua miền Thập Tỉnh mà đến biển hồ Galilê. Người ta đem đến cho Người một người vừa điếc vừa ngọng, và xin Người đặt tay trên anh. Người kéo riêng anh ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh, rồi nhổ nước miếng và chạm vào lưỡi anh. Đoạn Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói: “Épphatha”, nghĩa là: “Hãy mở ra!”
 
Lập tức tai anh mở ra, lưỡi anh được tháo gỡ và anh nói được rõ ràng. Đức Giêsu truyền họ đừng nói với ai cả. Nhưng Người càng truyền, họ lại càng rao truyền mạnh mẽ hơn. Ai nấy hết sức kinh ngạc và nói: “Người làm mọi sự đều tốt đẹp: Người làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được.”
Suy niệm
Bài đọc I không nói trực tiếp, nhưng toàn bộ bối cảnh cho thấy căn bệnh sâu xa của vua Salômôn chính là bệnh điếc thiêng liêng, tức là không còn lắng nghe lời Thiên Chúa. Khi được Thiên Chúa yêu thương, ban cho khôn ngoan, giàu sang và một triều đại huy hoàng, lẽ ra Salômôn phải trung thành với giao ước. Thế nhưng, nhà vua đã dần dần thỏa hiệp với những ảnh hưởng chung quanh, để việc thờ bái ngẫu tượng len lỏi vào đời sống tôn giáo của dân Chúa.
Thiên Chúa đã hai lần hiện ra nhắc nhở và cảnh tỉnh, nhưng nhà vua không lắng nghe. Sự đóng kín đôi tai nội tâm ấy trở thành nguồn gốc của bao hậu quả đau thương: vương quốc Đavít bị xâu xé, phần lớn lãnh thổ rơi vào tay Giêrôbôam. Khi con người không còn nghe tiếng Thiên Chúa, lịch sử cứu độ bị rạn nứt, và đời sống thiêng liêng dần suy tàn.
Thực ra, “bệnh điếc về tinh thần” không chỉ là câu chuyện của một vị vua trong quá khứ, nhưng là căn bệnh phổ quát của nhân loại. Con người thường nghe rất nhiều tiếng nói: dư luận, lợi ích, đam mê, sợ hãi… nhưng lại khó lắng nghe tiếng nói nhẹ nhàng của Thiên Chúa trong lương tâm. Chính vì thế, phép lạ Tin Mừng hôm nay mang một ý nghĩa biểu tượng sâu xa: Đức Giêsu đến để mở tai và mở miệng cho nhân loại.
Thánh Marcô mô tả cử chỉ của Đức Giêsu rất cụ thể: Người đặt ngón tay vào tai người bệnh, chạm vào lưỡi anh, ngước mắt lên trời và thở dài. Những cử chỉ này cho thấy Đức Giêsu hành động như một vị lương y gần gũi, chứ không phải một nhân vật phô trương quyền năng. Người không tìm sự lẫy lừng bên ngoài, nhưng chạm đến nỗi đau rất thực của con người.
Tiếng kêu “Épphatha – Hãy mở ra!” không chỉ dành cho một người bệnh, nhưng vang vọng như một lời mời gọi cho toàn thể nhân loại. Thiên Chúa muốn mở đôi tai chúng ta để nghe Lời Ngài, và mở môi miệng chúng ta để tuyên xưng đức tin. Ơn cứu độ không khởi đi từ những dấu lạ ồn ào, nhưng từ sự gặp gỡ cá vị, âm thầm giữa Đức Kitô và từng con người.
Đức Giêsu còn muốn phá vỡ một quan niệm sai lầm thời bấy giờ: người ta chờ đợi Đấng Mêsia sẽ xuất hiện với quyền lực rực rỡ, những dấu chỉ chấn động. Trái lại, Người chọn con đường khiêm hạ, tiến dần tới mầu nhiệm thập giá. Chính qua đau khổ và hiến mình, Người chữa lành căn bệnh sâu xa nhất của nhân loại: sự khép kín trước Thiên Chúa.
Thập giá trở thành “liều thuốc” chữa bệnh câm điếc thiêng liêng. Khi chiêm ngắm Đức Kitô chịu đóng đinh, con người học lại cách lắng nghe: lắng nghe tình yêu tự hiến, lắng nghe tiếng gọi hoán cải, lắng nghe sự thật về tội lỗi và lòng thương xót. Từ đó, miệng lưỡi được mở ra để tuyên xưng: Đức Giêsu là Chúa.
Bước theo Đức Kitô, người môn đệ cũng được mời gọi đi vào con đường ấy: từ bỏ mình, chấp nhận hy sinh, đặt Thiên Chúa lên trên hết. Lắng nghe Lời Chúa không chỉ là thái độ trí thức, nhưng là một chọn lựa sống: để Lời biến đổi quyết định, hành động và tương quan của mình. Khi tai lòng mở ra, đời sống trở thành một lời rao giảng sống động.
Trong đời sống mục vụ hôm nay, căn bệnh câm điếc thiêng liêng vẫn hiện diện: nghe Lời Chúa nhưng không để Lời chạm tới; nói nhiều về đức tin nhưng thiếu chứng tá bằng đời sống. Đức Giêsu tiếp tục nói “Épphatha” với Giáo hội: hãy mở ra để nghe tiếng kêu của con người, và mở ra để loan báo lòng thương xót.
Phép lạ cũng gợi lại cử chỉ trong phụng vụ Rửa tội, khi thừa tác viên đọc lời “Effata” trên tai và miệng người lãnh nhận. Điều đó nhắc rằng đời Kitô hữu là hành trình liên lỉ được mở ra: mở ra với Lời Chúa, với tha nhân, và với sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Hôm nay, chúng ta xin được trở nên người môn đệ biết chăm chú lắng nghe và can đảm tuyên xưng. Lắng nghe trong cầu nguyện, trong Kinh Thánh, trong tiếng nói của lương tâm; tuyên xưng bằng đời sống bác ái, khiêm nhường và trung tín. Khi kết hiệp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô qua những hy sinh nhỏ bé mỗi ngày, chúng ta cộng tác với Người trong công trình chữa lành nhân loại.
Xét mình
Tôi có đang nghe rất nhiều tiếng nói của thế gian nhưng lại ít dành thời gian lắng nghe Lời Thiên Chúa không?
Điều gì đang làm “đóng kín” đôi tai thiêng liêng của tôi: thói quen, kiêu ngạo, hay sự sợ hãi?
Đời sống của tôi có trở thành lời chứng giúp người khác nhận ra tình thương của Đức Kitô không?
THỨ BẢY – TUẦN V THƯỜNG NIÊN
1 V 12,26-32; 13,33-34 – Mc 8,1-10
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Máccô 
Trong những ngày ấy, lại có một đám đông rất đông tụ họp, và họ không có gì ăn. Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà nói: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở với Thầy đã ba ngày rồi mà không có gì ăn. Nếu Thầy giải tán để họ nhịn đói mà về nhà, thì họ sẽ xỉu dọc đường, vì trong số họ có những người đã đi từ xa đến.”
 
Các môn đệ thưa Người: “Ở nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no?”
 
Người hỏi các ông: Anh em có mấy chiếc bánh?”
 
Các ông đáp: “Thưa có bảy chiếc.”
 
Người truyền cho đám đông ngồi xuống đất. Rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông phân phát, và các ông đã phân phát cho đám đông. Họ cũng có mấy con cá nhỏ; Người dâng lời chúc tụng, rồi cũng bảo đem phân phát luôn.
 
Đám đông đã ăn và được no nê. Người ta thu lại những mẩu bánh còn dư được bảy giỏ. Số người ăn độ chừng bốn ngàn người. Sau đó, Người giải tán họ. Lập tức, Người xuống thuyền cùng với các môn đệ, sang vùng Đan-manu-tha.
Suy niệm
Bài đọc I hôm nay cho thấy: sau cuộc ly khai về mặt chính trị giữa mười chi tộc ở phương Bắc và hai chi tộc ở phương Nam, lại xảy ra một cuộc ly khai nghiêm trọng hơn, đó là ly khai trên lãnh vực tôn giáo. Trước khi có triều đại quân chủ trên đất Israel, mối dây liên kết duy nhất giữa mười hai chi tộc chính là niềm tin chung vào Thiên Chúa Giavê.
Khởi đi từ triều đại vua Saolê, và đặc biệt dưới thời vua Đavít và Salômôn, sự hiệp nhất giữa các chi tộc mang thêm chiều kích chính trị. Tuy nhiên, mối dây này vốn mong manh. Dù được quy tụ dưới quyền một vị vua, các chi tộc vẫn giữ bản sắc riêng biệt. Những sai lầm và vụng về trong chính sách kinh tế của vua Salômôn, rồi sau đó là của vua Robôam, đã khiến mười chi tộc phương Bắc phẫn nộ tột cùng. Trước thử thách ấy, mỗi nhóm quay về với chi tộc của mình, và sự hiệp nhất của đất nước Israel bị tan vỡ.
Tuy nhiên, các chi tộc phương Bắc vẫn giữ thói quen hành hương xuống phương Nam, đến Đền Thờ Giêrusalem, nơi đặt Hòm Bia Giao Ước. Vua Giêrôbôam ở phương Bắc không muốn thần dân mình tiếp tục gắn bó với Giêrusalem. Ông cho phục hồi hai thánh điện cũ tại Béthel và Đan, để dân chúng hành hương tại chỗ. Như thế, cuộc ly khai mang tính chính trị giờ đây được củng cố thêm bằng một cuộc ly khai tôn giáo.
Những biến cố tương tự như thế vẫn còn xảy ra trong đời sống hôm nay. Chúng ta ý thức rõ rằng hoàn cảnh kinh tế và chính trị có ảnh hưởng rất lớn trên đời sống con người, kể cả đời sống đức tin. Có thể điều này làm chúng ta “chói tai”, nhưng đó là một thực tế: trong nhiều gia đình, đời sống kinh tế tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm linh. Do đó, người tín hữu cần tỉnh táo để nhận diện những điều kiện cụ thể của công cuộc loan báo Tin Mừng ngày nay. Tin vào Chúa và làm sứ giả của Người cũng đòi hỏi chúng ta dấn thân cho công bằng xã hội và phẩm giá con người.
Đó chính là điều Chúa Giêsu đã thực hiện trong bài Tin Mừng hôm nay. Người không chỉ rao giảng Tin Mừng từ làng này sang làng khác, không chỉ chữa lành bệnh tật, mà còn chạnh lòng thương và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng đám đông đang đói khát.
Giống như các Tông đồ xưa, chúng ta không chỉ có bổn phận loan báo Nước Thiên Chúa bằng lời nói, mà còn được mời gọi cộng tác với Chúa Giêsu để nuôi dưỡng con người toàn diện. Đứng trước đám đông mệt mỏi vì đói khát, các môn đệ biết điều cần làm, nhưng họ ý thức sự bất lực của mình: không đủ khả năng, không đủ phương tiện. Chúa Giêsu không đòi các ông làm điều vượt quá sức, Người chỉ mời gọi họ trao cho Người những gì họ có.
Ngày nay cũng vậy, người tín hữu được sai đi làm chứng cho Tin Mừng giữa một thế giới còn nhiều thiếu thốn và bất công. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm tất cả những gì có thể trong khả năng của mình, và tin tưởng rằng Người sẽ hoàn tất phần còn lại. Qua Thánh lễ hôm nay, Chúa tiếp tục tái diễn phép lạ hóa bánh ra nhiều, nuôi dưỡng chúng ta bằng Lương Thực thần linh. Và khi đã được nuôi dưỡng bởi chính Người, chúng ta được sai đi để chia sẻ chính con người mình: thời gian, sức khỏe, tài năng và của cải cho những anh chị em đang túng thiếu. Đó chính là đòi hỏi thiết yếu của chứng tá Kitô hữu trong xã hội hôm nay.
Xét mình
Tôi có đang để những lo toan kinh tế, xã hội hay quyền lợi cá nhân làm suy yếu đời sống đức tin và sự gắn bó của tôi với Giáo hội không?
Tôi đã thực sự dám chia sẻ “những gì mình có” cho Chúa và cho anh chị em, hay vẫn còn khép kín và sợ thiếu thốn cho bản thân?