Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật Tuần III TNA: Tiếng Gọi Tức Thì & Sự Đáp Trả Dứt Khoát

90 lượt xem

Các Bài Suy Niệm Chúa Nhật Tuần III TNA

Is 8,23-9,3; 1 Cr 1,10-13.17; Mt 4,12-23

Phụng vụ Chúa Nhật III Thường Niên A mời gọi chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu – Ánh Sáng chiếu soi bóng tối trần gian, Đấng kêu gọi con người hoán cải, hiệp nhất và lên đường theo Người trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

  • Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương khai triển hình ảnh Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, soi chiếu vùng tối của nhân loại và mời gọi mỗi Kitô hữu hoán cải, hiệp nhất và trở nên ánh sáng cho đời trong chính bậc sống của mình.
  • Lm. Anthony Trung Thành dẫn người đọc đi từ thực tại bóng tối cá nhân, gia đình và xã hội đến ánh sáng cứu độ của Đức Kitô, nhấn mạnh sám hối là con đường thiết yếu để được biến đổi và sống niềm hy vọng Tin Mừng.
  • Lm. Anmai, CSSR, qua hình ảnh tiếng gọi khẩn thiết, con thuyền an toàn và sự biến đổi từ ngư phủ thành tông đồ, tác giả mời gọi người Kitô hữu đáp trả dứt khoát tiếng Chúa, dám từ bỏ an toàn quen thuộc để theo Đức Kitô và trở nên chứng nhân Tin Mừng.

Ước mong qua các bài suy niệm sau, cộng đoàn thêm xác tín và quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa.

======================================

CHÚA GIÊ-SU, ÁNH SÁNG MUÔN DÂN 

 Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Trong thánh lễ Chúa Nhật III Thường Niên này, chúng ta suy niệm về chủ đề mà phụng vụ Lời Chúa hôm nay gợi lên: “Chúa Giêsu là ánh sáng muôn dân.”

1. Ánh sáng chiếu soi đêm tối

Trong bài đọc I, hình ảnh được dùng ở đây là ánh sáng. Tiên tri Isaia nói về Galilê là mảnh đất của dân ngoại, những con người không thanh sạch và nhỏ bé, thấp hèn. Nhưng trong cái nhìn tiên tri của Isaia, đây là nơi mà ánh sáng của Thiên Chúa sẽ xuất hiện và “dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1). Dưới ánh sáng của mạc khải Tân Ước, chúng ta nhận ra ánh sáng mà Isaia loan báo đó chính là Đức Giêsu, Người là ánh sáng soi chiếu cho muôn dân.

Trong bài đọc II, thánh Phaolô nói với dân chúng ở Côrintô, những người được coi là đã đón nhận ánh sáng Chúa Kitô, ánh sáng đó đã đến với họ để soi chiếu lòng trí họ nhận ra con đường dẫn tới ơn cứu độ. Tuy nhiên, khốn thay có những tranh chấp, xung đột và chia rẽ đã xảy ra giữa cộng đoàn vì lòng trung thành và trung tín của họ. Ánh sáng của Chúa Kitô đã bị giảm thiểu và hiểu một cách sai lạc. Họ tranh luận nhau:

“Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô bị chia năm xẻ bảy rồi ư?” (1 Cr 1,12-13).

Thế ra, thay vì tập trung vào Chúa Kitô, họ lại tập trung vào các Tông Đồ, những người rao giảng về Chúa Kitô. Và như thế có một sự cắt đứt với ánh sáng ở giữa họ: một số thì trung thành hơn với Phêrô, một số thì trung thành hơn với Phaolô hay Apôlô hơn là trung thành với Chúa Giêsu. Điều này đã mang đến cho cộng đoàn những bóng tối về sự chia rẽ, thiếu sự hiệp nhất. Điều này là một sự nhắc nhở rất ý nghĩa cho chúng ta, những tông đồ của Chúa, các giám mục, linh mục, giáo dân, các cô thầy giáo, những người hướng dẫn… chúng ta không được chiếm chỗ của Chúa Kitô nơi dân chúng, không được cạnh tranh với Người. Bởi Người là ánh sáng cho muôn người và khi dân chúng đến với chúng ta, chúng ta phải hướng họ đến với Chúa Kitô như Phaolô đã làm.

2. Chúa Giêsu, ánh sáng thật

Trong bài Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu bước vào một khoảnh khắc của bóng tối, tương tự như trong bài đọc I, Isaia nói tới, dân bước đi trong đêm tối. Ở đây là bóng tối gì vậy? Gioan Tẩy Giả đã bị bắt và bị bỏ tù. Đó là một giây phút rất đen tối của xã hội lúc bấy giờ đối với các môn đệ của Gioan và cả các môn đệ của Chúa Giêsu, những người được Gioan giới thiệu đến với Người. Nhưng đây là khoảnh khắc đêm tối không biết làm sao để hướng tới ánh sáng, bởi vì khi Gioan Tẩy Giả bị bắt, Chúa Giêsu rút lui và lánh qua miền Galilê, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê. Người đến với đoàn dân ngoại, không trong sạch và bị khinh thường, từ đó ánh sáng đã bừng lên chiếu rọi mọi người.

Theo thánh Mátthêu, việc Chúa Giêsu rút lui để đến Galilê, nơi dân ngoại sinh sống là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói: Ánh sáng sẽ đến và ánh sáng Chúa Kitô đến với một thông điệp mở đầu:

“Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).

Nước Trời không phải là triều đại của thế giới này, nhưng là triều đại đến từ trên cao. Nước Thiên Chúa rất gần, đang đến với chúng ta và nó đến với chúng ta qua Galilê, qua một dân tộc bị ngờ vực, một dân tộc không thanh sạch. Ánh sáng sẽ đến. Nước Thiên Chúa đang đến với chúng ta. Nên chúng ta phải hoán cải đời sống. Vì Chúa đang đến với chúng ta, nên những gì không thuộc về Thiên Chúa cần phải từ bỏ và quay về với Chúa, trở về với ánh sáng này. Nước Thiên Chúa đang đến với chúng ta, vậy ngay bây giờ, chúng ta hãy chọn lựa để thuộc về Thiên Chúa. Nhưng chúng ta phải từ bỏ những sự lệ thuộc, những dính bén của chúng ta với những gì mà chúng ngăn cản chúng ta đến với ánh sáng Chúa Kitô.

3. Để nên ánh sáng cho đời

Có một cách thế khác để ánh sáng của Nước Thiên Chúa đến với dân chúng ở Galilê: Chúa Giêsu gọi 4 môn đệ đầu tiên của mình không ở Giêrusalem, thành thánh, nhưng ở miền quê Galilê. Phêrô, Anrê, Gioan và Giacôbê. Người mời gọi họ:

“Hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19).

Đây là lời mời gọi khác: Nước Thiên Chúa đã đến gần. Nào hãy đến và theo tôi. Tôi sẽ tôn trọng các anh, những ngư phủ. Tôi biết khả năng của các anh. Tôi biết các anh giỏi về mặt gì. Nào, hãy đến và theo tôi, tôi sẽ biến đổi các anh trở thành những kẻ lưới người. Cũng là một nghề, nhưng có gì đó khác biệt bởi vì từ đây, họ trở thành những người phục vụ Nước Trời. Họ sẽ trở thành những kẻ đánh bắt cá người như là ánh sáng đến chiếu soi và hướng dẫn họ đến với ánh sáng Chúa Kitô. Ngày hôm nay, Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta tham gia vào sứ vụ loan báo Tin Mừng cho thế giới. Đây là sứ vụ cao cả, đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ như các môn đệ đầu tiên để có thể lên đường theo Chúa và loan báo Nước Trời. Tất cả chúng ta đều được mời gọi: Hãy theo tôi. Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ loan báo Tin Mừng cho con người hôm nay.

Như thế, lời mời gọi của Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở việc là xa lánh các tội lỗi, nhưng còn làm cho mình sẵn sàng trở thành người phục vụ Nước Thiên Chúa, nhờ đó qua tôi, trong mọi sự, tôi trở thành một ngư phủ, một cảnh sát, một thầy, cô giáo, một doanh nhân, một thương gia…, tôi có thể đưa những người khác tới ánh sáng Nước Trời trong Chúa Kitô. Nhờ ánh sáng đó soi sáng, chúng ta đã được thoát cảnh tối tăm của u mê, tội lỗi, và giúp chúng ta sẵn sàng phục vụ Người. Amen!

TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG

Lm. Anthony Trung Thành

Ánh sáng và bóng tối là hai hình ảnh mang chiều sâu biểu tượng xuyên suốt toàn bộ mạc khải Kinh Thánh. Ngay từ buổi đầu sáng tạo, khi Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng” (St 1,3), ánh sáng đã xuất hiện như dấu chỉ sự sống, trật tự và sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa. Ngược lại, bóng tối thường gắn liền với hỗn mang, sợ hãi, tội lỗi và sự chết. Vì thế, trong ngôn ngữ Kinh Thánh, ánh sáng không chỉ là một thực tại vật lý, nhưng trước hết là biểu tượng của chính Thiên Chúa đang đến gần, đang hành động và đang giải thoát con người (x. Tv 27,1; Ga 1,4-5).

Chính từ nền tảng biểu tượng ấy, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay dẫn chúng ta bước vào một hành trình thiêng liêng rõ rệt: từ việc đối diện với bóng tối đến việc được đưa vào ánh sáng. Điều đáng lưu ý là Lời Chúa không mời gọi chúng ta né tránh hay phủ nhận bóng tối, nhưng mời gọi chúng ta nhìn thẳng vào thực tại ấy, bởi chỉ khi bóng tối được nhận diện, ánh sáng cứu độ mới thực sự trở nên cần thiết và có ý nghĩa.

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ I-sai-a, đưa chúng ta trở về với miền Giơ-bu-lôn và Nép-ta-li, tức vùng Ga-li-lê (x. Is 9,1-4). Đây là miền đất từng chịu cảnh xâm lăng, lưu đày, pha tạp văn hóa và suy thoái đời sống tôn giáo. Trong cái nhìn của người Do Thái thời bấy giờ, Ga-li-lê bị coi là vùng đất bị lãng quên, là “vùng bóng sự chết”. Tuy nhiên, điều quan trọng là bóng tối ở đây không chỉ mang ý nghĩa địa lý hay chính trị, mà sâu xa hơn, đó là biểu tượng của một tình trạng thiêng liêng: con người mất phương hướng, niềm hy vọng bị bào mòn, và đức tin trở nên mong manh.

Từ kinh nghiệm lịch sử ấy, Lời Chúa mời gọi mỗi người chúng ta quay về với chính mình, bởi bóng tối không chỉ tồn tại trong quá khứ hay nơi một vùng đất xa xôi, nhưng vẫn đang hiện diện rất gần trong đời sống hôm nay. Trong chiều kích cá nhân, những vùng tối ấy có thể mang nhiều hình thức: những tội lỗi chưa được hoán cải, những thói quen xấu đã ăn sâu vào lối sống như ích kỷ, kiêu ngạo, ham mê vật chất, hoặc khuynh hướng tìm kiếm bản thân hơn là tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Có khi bóng tối ấy biểu lộ qua sự nguội lạnh trong cầu nguyện, đời sống đức tin mang tính hình thức, hay thái độ thờ ơ trước Lời Chúa. Những bóng tối này thường không bộc lộ ồn ào, nhưng âm thầm làm cho con người đánh mất khả năng “đi trong ánh sáng” (x. Rm 13,12).

Bên cạnh đó, cũng cần nhìn nhận rằng không phải mọi bóng tối đều phát sinh từ tội lỗi cố ý. Có những vùng tối khởi đi từ sự mong manh của phận người: những tổn thương chưa được chữa lành, những oán giận kéo dài, cảm giác thất vọng hay bị bỏ rơi, những ký ức đau buồn khiến con người khép chặt lòng mình. Tuy nhiên, dù xuất phát từ đâu, nếu những bóng tối ấy không được đặt dưới ánh sáng của Đức Ki-tô, chúng vẫn có thể dẫn con người đến tình trạng chai cứng nội tâm và làm mai một niềm hy vọng Kitô giáo.

Không chỉ nơi cá nhân, gia đình cũng là không gian rất cụ thể nơi bóng tối có thể âm thầm len lỏi. Những vùng tối ấy thường biểu lộ qua sự thiếu đối thoại giữa vợ chồng, sự xa cách giữa cha mẹ và con cái, những lời nói gây tổn thương, hoặc một bầu khí thiêng liêng nghèo nàn và mang tính hình thức. Khi những bóng tối ấy kéo dài, gia đình dần đánh mất khả năng trở thành nơi nâng đỡ và truyền đạt đức tin, đồng thời để lại những vết thương có thể lan sang các thế hệ tương lai.

Không dừng lại ở phạm vi gia đình, Lời Chúa còn giúp chúng ta nhận diện bóng tối trong chiều kích xã hội, nơi những chọn lựa và cơ cấu tập thể có thể góp phần làm tổn thương phẩm giá con người. Đó là bóng tối của một xã hội đặt hiệu quả và lợi nhuận lên trên con người; bóng tối của sự dửng dưng trước nỗi đau của người nghèo, người bị loại trừ; bóng tối của gian dối, bạo lực và thao túng sự thật. Đặc biệt, khi sự bất công trở nên điều “bình thường”, khi con người quen với gian dối và vô cảm trước đau khổ của người khác, xã hội ấy đang bị bao phủ bởi một thứ bóng tối sâu xa hơn: bóng tối của sự mất khả năng liên đới. Chính trong bối cảnh đó, ánh sáng của Tin Mừng không chỉ là ánh sáng cho từng cá nhân, nhưng còn là lời mời gọi hoán cải xã hội, tái lập những mối tương quan dựa trên sự thật, công bằng và tình huynh đệ.

Chiều kích cộng đoàn Hội Thánh cũng không nằm ngoài thực tại này. Trong Bài đọc II, thánh Phao-lô cảnh báo cộng đoàn Cô-rin-tô về tình trạng chia rẽ (x. 1 Cr 1,10-13). Chia rẽ chính là một bóng tối thiêng liêng, bởi nó làm tổn thương Thân Thể Đức Ki-tô và che khuất dung mạo của Người trước thế giới. Bóng tối ấy xuất hiện khi cái “tôi” cá nhân lấn át cái “chúng ta” của Hội Thánh, khi con người dễ phê phán hơn là lắng nghe, dễ kết án hơn là cảm thông.

Tuy nhiên, Lời Chúa hôm nay không dừng lại ở việc phơi bày bóng tối, nhưng mở ra cho chúng ta con đường dẫn đến Ánh Sáng: Đức Giê-su Ki-tô là Ánh Sáng thật. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho thấy Đức Giê-su đã khởi đầu sứ vụ công khai của Người tại miền Ga-li-lê (x. Mt 4,12-17), nơi từng bị coi là vùng đất tối tăm. Chi tiết này mặc khải cho chúng ta thấy rằng: Thiên Chúa không đợi con người ra khỏi bóng tối rồi mới đến, nhưng chính Người bước vào bóng tối để dẫn con người ra ánh sáng. Đức Giê-su là Ánh Sáng chiếu soi mọi người, là sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa giữa lòng lịch sử nhân loại (x. Ga 1,9).

Lời rao giảng đầu tiên của Đức Giê-su vang lên như một lời mời gọi mang tính quyết liệt: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17). Theo truyền thống Kinh Thánh và giáo huấn Hội Thánh, sám hối không chỉ là ăn năn về những lỗi lầm đã qua, nhưng là một cuộc hoán cải tận căn, một sự thay đổi hướng đi của đời sống dưới tác động của ân sủng (x. GLHTCG 1427-1429). Sám hối chính là thái độ dám để ánh sáng của Đức Ki-tô soi chiếu vào những chọn lựa, thói quen và động cơ sâu kín của lòng mình.

Chính vì thế, sám hối là con đường thiết yếu để con người thoát khỏi bóng tối và bước vào ánh sáng trong mọi chiều kích của đời sống. Ở bình diện cá nhân, sám hối giúp con người can đảm đối diện với sự thật về chính mình và mở lòng đón nhận ơn tha thứ và biến đổi của Thiên Chúa. Trong đời sống gia đình, sám hối là điều kiện để chữa lành các mối tương quan bị tổn thương, giúp gia đình thoát khỏi bóng tối của im lặng và chia rẽ, để bước vào ánh sáng của hiệp thông và yêu thương. Ở bình diện xã hội, sám hối là lời mời gọi hoán cải những não trạng và cơ chế đang dung dưỡng bất công, vô cảm và gian dối, để ánh sáng của sự thật, công bằng và liên đới có thể thực sự chiếu tỏa. Ngay trong chính đời sống Hội Thánh, tinh thần sám hối giúp cộng đoàn trở về với Đức Ki-tô, không ngừng được thanh luyện, để trở nên dấu chỉ trong suốt và đáng tin cậy của ánh sáng Tin Mừng giữa trần gian.

Chính trong tiến trình sám hối ấy, con người được mời gọi bước theo Đức Giê-su, như các môn đệ đã bỏ lại lưới và thuyền để theo Người (x. Mt 4,18-22). Việc từ bỏ này không phải là mất mát vô nghĩa, nhưng là điều kiện để con người bước ra khỏi những giới hạn cũ, thoát khỏi bóng tối của sợ hãi và tự mãn, để bước vào ánh sáng của một đời sống mới và một sứ mạng mới.

Như thế, hành trình từ bóng tối đến ánh sáng không phải là một chuyển biến tức thời, nhưng là một tiến trình sám hối liên lỉ của từng cá nhân, từng gia đình, của xã hội và của toàn thể cộng đoàn Hội Thánh, khi tất cả cùng để cho Đức Ki-tô, Ánh Sáng thật, soi chiếu, thanh luyện và biến đổi.

Lạy Đức Giê-su Ki-tô, Ánh Sáng thật đến thế gian, xin bước vào những vùng tối còn tồn tại trong đời sống chúng con, để dẫn chúng con ra khỏi bóng tối của tội lỗi, sợ hãi và chia rẽ, và cho chúng con trở nên con cái ánh sáng, là chứng nhân của ánh sáng hy vọng giữa lòng thế giới hôm nay. A-men.

TIẾNG GỌI TỨC THÌ VÀ SỰ ĐÁP TRẢ DỨT KHOÁT

Lm. Anmai, CSSR

Bài Tin Mừng theo Thánh Máccô mà chúng ta vừa nghe hôm nay, trong Chúa Nhật thứ Ba Thường Niên, là một trong những đoạn văn bản lột tả một cách sống động và mạnh mẽ nhất về sự khởi đầu của sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Nó giống như một tiếng chuông vang lên, không chỉ báo hiệu một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, mà còn là một tiếng gọi khẩn thiết, đánh thức mỗi tâm hồn khỏi giấc ngủ của sự quen thuộc và trì trệ. Bối cảnh của đoạn Tin Mừng này thật đặc biệt: “Sau khi ông Gioan bị nộp”. Sự nghiệp của vị Tiền Hô vĩ đại đã kết thúc một cách bi thảm. Ánh sáng của ngọn đèn đã tắt, nhưng đó lại chính là lúc Ánh Sáng thật của trần gian bừng lên rực rỡ. Sự chấm dứt sứ vụ của Gioan không phải là một khoảng trống, mà là một sự chuyển giao. Bóng tối của sự bắt bớ dường như bao trùm, nhưng chính trong bóng tối ấy, Chúa Giêsu đã bắt đầu cuộc rao giảng của Người tại Galilê, một vùng đất bị coi là ngoại biên, xa trung tâm tôn giáo Giêrusalem.

Thông điệp đầu tiên của Chúa Giêsu vang lên như một lời tuyên bố long trọng, chứa đựng toàn bộ cốt lõi của Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Bốn mệnh đề ngắn gọn nhưng mang một sức nặng ngàn cân. “Thời kỳ đã mãn” – tiếng Hy Lạp dùng từ “kairos”, không phải là “chronos”. “Chronos” là thời gian tuyến tính, là những giây phút trôi qua đều đặn mà chúng ta đo đếm bằng đồng hồ. Còn “kairos” là thời điểm của Thiên Chúa, là khoảnh khắc quyết định, là cơ hội ngàn vàng không thể bỏ lỡ. Đó là thời điểm mà mọi lời hứa của các ngôn sứ, mọi sự mong chờ của dân Israel qua bao thế kỷ nay đã được đúc kết lại và trở thành hiện thực. Đây không còn là lúc để chờ đợi, để hy vọng xa xôi nữa. Đây là lúc của hành động. “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” – Vương quốc mà dân Do Thái hằng mong đợi không còn là một ý niệm tương lai, nhưng đã hiện diện nơi đây, ngay trong chính con người và sứ vụ của Đức Giêsu thành Nadarét.

Trước một thực tại vĩ đại và khẩn cấp như vậy, con người phải làm gì? Chúa Giêsu đưa ra hai yêu cầu không thể tách rời: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Sám hối, “metanoia”, không chỉ đơn thuần là hối hận về những lỗi lầm trong quá khứ. Nó là một cuộc cách mạng trong tư duy, một sự thay đổi tận gốc rễ của con tim và khối óc. Đó là quay lưng lại với con đường cũ của tội lỗi, của sự ích kỷ, của việc đặt cái tôi làm trung tâm, để quay mặt hướng về Thiên Chúa, đón nhận một hướng đi mới, một hệ giá trị mới. Đó là một sự “đảo ngược” toàn bộ cuộc đời. Và đi liền với sám hối là “tin vào Tin Mừng”. Tin, “pistis”, không phải là chấp nhận một mớ các giáo điều khô khan, nhưng là đặt trọn vẹn niềm tin, sự phó thác và lòng trung thành vào một Ngôi Vị, chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng là hiện thân của Tin Mừng. Tin là mở lòng ra để cho Lời của Người thấm nhập, biến đổi và định hình lại cuộc sống của mình. Tin là dám đặt cược cả cuộc đời mình vào lời hứa của Người.

Lời rao giảng của Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở lời nói. Ngay sau khi công bố thông điệp nền tảng ấy, Người đã hành động. Người đi dọc theo bờ biển Galilê, nơi những con người bình dị đang vật lộn với cuộc sống mưu sinh hằng ngày. Và tại đây, chúng ta chứng kiến một trong những cảnh tượng đẹp đẽ và đầy kịch tính nhất của Tin Mừng: tiếng gọi của các môn đệ đầu tiên. Người nhìn thấy Simon và Anrê, hai anh em, đang quăng chài xuống biển. Họ là những ngư dân, những con người của lao động, của biển cả, của nắng gió. Cuộc sống của họ gắn liền với con thuyền, với tấm lưới, với sự bấp bênh của từng mẻ cá. Chúa Giêsu đã đến với họ, ngay giữa công việc thường nhật của họ, và ngỏ một lời mời gọi thật lạ lùng: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như chài”.

Lời mời gọi này thật phi thường. Chúa Giêsu không hứa hẹn cho họ một cuộc sống giàu sang, một địa vị cao trọng hay một sự an nhàn. Trái lại, Người kêu gọi họ bước vào một cuộc phiêu lưu mới, một nghề nghiệp mới còn bấp bênh hơn cả nghề chài lưới. “Lưới người” – đó là một hình ảnh thật mạnh mẽ. Nó không có nghĩa là lừa gạt hay gài bẫy người khác. Trong bối cảnh Kinh Thánh, biển cả thường là biểu tượng của sự hỗn loạn, của quyền lực sự dữ và sự chết. “Lưới người” có nghĩa là kéo họ ra khỏi biển cả của tội lỗi, của sự vô nghĩa, của sự tuyệt vọng, để đưa họ vào trong con thuyền của cộng đoàn đức tin, vào trong sự sống và sự an bình của Triều Đại Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn biến đổi kỹ năng nghề nghiệp của họ. Từ việc bắt cá để duy trì sự sống thể xác, họ sẽ được nâng lên một tầm mức mới: quy tụ con người để ban cho họ sự sống đời đời. Người không hủy bỏ con người cũ của họ, nhưng thánh hóa và nâng cao nó cho một mục đích cao cả hơn.

Điều đáng kinh ngạc nhất trong trình thuật này chính là sự đáp trả của các môn đệ. Thánh Máccô nhấn mạnh bằng từ “lập tức”. “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người”. Không một chút do dự, không một lời thắc mắc, không một điều kiện nào được đặt ra. Họ không hỏi: “Thưa Thầy, đi theo Thầy chúng con sẽ được gì?”, “Gia đình chúng con sẽ sống ra sao?”, “Nghề lưới người là nghề gì?”. Họ chỉ đơn giản là bỏ lại tất cả và đi theo. Họ bỏ lại “chài lưới”, là phương tiện mưu sinh, là sự bảo đảm cho tương lai, là tất cả những gì họ có.

Đi một quãng nữa, Chúa Giêsu lại thấy hai anh em khác, Giacôbê và Gioan, con ông Dêbêđê, đang vá lưới trong thuyền. Người lại gọi các ông. Và một lần nữa, phản ứng cũng thật tức thì. “Lập tức, các ông bỏ cha mình là ông Dêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người”. Lần này, sự từ bỏ còn đi xa hơn. Các ông không chỉ bỏ lại “thuyền” và “lưới”, là tài sản và sự nghiệp, mà còn bỏ lại cả “cha mình”. Trong văn hóa Do Thái, mối dây liên kết gia đình, đặc biệt là sự hiếu thảo với cha mẹ, là một trong những điều thiêng liêng và quan trọng nhất. Việc bỏ lại cha mình không có nghĩa là các ông bất hiếu, nhưng nó cho thấy sức hấp dẫn và quyền năng nơi lời gọi của Chúa Giêsu mạnh mẽ đến mức nào. Nó cho thấy rằng, khi tiếng gọi của Thiên Chúa vang lên, mọi mối dây liên kết khác, dù là chính đáng và cao quý, cũng phải được đặt ở vị trí thứ hai. Lòng trung thành với Chúa Kitô phải được ưu tiên trên hết.

Tại sao các môn đệ lại có thể đáp trả một cách mau lẹ và dứt khoát đến như vậy? Phải chăng họ là những con người nhẹ dạ, cả tin? Hay họ đã quá chán nản với cuộc sống của mình? Thưa không. Câu trả lời không nằm ở các môn đệ, mà nằm ở chính Đấng đã cất tiếng gọi. Chắc chắn đã có một điều gì đó trong ánh mắt, trong giọng nói, trong chính con người của Đức Giêsu đã chinh phục hoàn toàn trái tim họ. Họ đã nhìn thấy nơi Người một quyền năng, một sự thật, một niềm hy vọng mà họ chưa từng thấy ở bất cứ ai. Lời mời gọi của Người không phải là một mệnh lệnh lạnh lùng, nhưng là một lời mời gọi của tình yêu, một lời hứa hẹn về một cuộc sống có ý nghĩa và sung mãn hơn. Họ đã cảm nhận được rằng, con người Giêsu này còn quý giá hơn cả chài lưới, hơn cả thuyền bè, hơn cả gia đình và hơn cả chính mạng sống của họ nữa. Họ đã gặp được “viên ngọc quý”, và họ sẵn sàng bán tất cả những gì mình có để mua lấy viên ngọc ấy.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không phải là một câu chuyện cổ tích xa xưa. Nó là một lời chất vấn trực tiếp đến mỗi người chúng ta, những Kitô hữu của thế kỷ 21. Tiếng gọi của Chúa Giêsu vẫn đang tiếp tục vang lên hôm nay, không chỉ trong các chủng viện hay tu viện, mà ngay giữa dòng đời, giữa những công việc thường nhật của chúng ta. Người đến với chúng ta, không phải khi chúng ta đang quỳ gối trong nhà thờ, nhưng có thể là khi chúng ta đang ngồi trước máy vi tính, khi chúng ta đang lái xe trên đường, khi chúng ta đang chăm sóc con cái, hay khi chúng ta đang đối mặt với những lo toan của cuộc sống. Người nói với mỗi chúng ta: “Thời kỳ đã mãn, Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

“Thời kỳ đã mãn” đối với chúng ta là gì? Đó là ngay lúc này, ngay giây phút này. Mỗi ngày sống là một “kairos”, một cơ hội được Thiên Chúa ban tặng để chúng ta yêu thương, để chúng ta tha thứ, để chúng ta hoán cải và để chúng ta sống trọn vẹn hơn cho Người. Chúng ta thường có xu hướng trì hoãn, hẹn với Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin đợi con, khi nào con nghỉ hưu, con sẽ đi lễ mỗi ngày”, “Khi nào con cái con lớn khôn, con sẽ dành thời gian cầu nguyện nhiều hơn”, “Khi nào con có nhiều tiền hơn, con sẽ làm việc bác ái”. Nhưng Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng, thời điểm quyết định là NGAY BÂY GIỜ. Đừng chờ đợi một hoàn cảnh lý tưởng hơn, vì hoàn cảnh lý tưởng nhất chính là lúc chúng ta nghe được tiếng Chúa và mở lòng ra với Người.

“Hãy sám hối”. Lời mời gọi này vẫn luôn mang tính thời sự. Chúng ta cần sám hối điều gì? Có lẽ là sám hối về thái độ sống hời hợt, coi việc giữ đạo chỉ là một thói quen, một bổn phận phải làm cho xong. Sám hối về việc chúng ta đã để cho những lo toan của thế gian, những đam mê tiền bạc, danh vọng, thú vui lấp đầy tâm hồn, không còn chỗ cho Thiên Chúa. Sám hối về sự ích kỷ, khi chúng ta chỉ biết nghĩ đến bản thân mà quên đi những người anh em đang đau khổ xung quanh. Sám hối là một hành trình liên lỉ, là mỗi ngày cố gắng loại bỏ một chút “cái tôi” để “cái Chúa” được lớn lên trong ta.

“Hãy tin vào Tin Mừng”. Giữa một thế giới đầy những tin tức xấu, những lo âu, bạo lực và tuyệt vọng, chúng ta có thực sự tin rằng Tin Mừng của Chúa Giêsu là một tin vui có sức mạnh biến đổi không? Chúng ta có tin rằng tình yêu mạnh hơn hận thù, sự tha thứ mạnh hơn sự báo oán, và sự sống mạnh hơn sự chết không? Tin vào Tin Mừng là dám sống ngược dòng với những giá trị của thế gian, dám chọn con đường của sự thật, của công lý và của tình thương, dù cho phải chịu thiệt thòi.

Và cũng như các môn đệ đầu tiên, chúng ta cũng được mời gọi “Hãy theo tôi”. Đi theo Chúa Giêsu không có nghĩa là tất cả chúng ta đều phải bỏ công ăn việc làm, bỏ gia đình để trở thành linh mục hay tu sĩ. Nhưng nó có nghĩa là đặt Chúa Giêsu làm trung tâm của mọi sự lựa chọn trong cuộc đời. Nó có nghĩa là trước khi quyết định một điều gì, chúng ta tự hỏi: “Nếu Chúa ở trong hoàn cảnh của tôi, Người sẽ làm gì? Lựa chọn này của tôi có làm vinh danh Chúa không?”. Đi theo Chúa là để cho Lời của Người và gương sống của Người hướng dẫn mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta.

Chúng ta cũng được mời gọi trở thành những “kẻ lưới người”. Mỗi người chúng ta, trong bậc sống của mình, đều có một sứ mạng. Một người cha, người mẹ được mời gọi “lưới” con cái mình cho Chúa bằng một đời sống gương mẫu, bằng việc dạy dỗ chúng những giá trị của Tin Mừng. Một người bác sĩ, y tá được mời gọi “lưới” các bệnh nhân bằng sự chăm sóc tận tình và lòng trắc ẩn, qua đó giúp họ cảm nhận được tình yêu chữa lành của Thiên Chúa. Một người giáo viên được mời gọi “lưới” các học sinh bằng việc truyền đạt kiến thức với tất cả lương tâm và trách nhiệm, và giúp chúng trở thành những người tốt. Một người doanh nhân được mời gọi “lưới người” bằng cách xây dựng một môi trường làm việc công bằng, nhân văn và tôn trọng phẩm giá con người. Bất cứ nơi nào chúng ta hiện diện, chúng ta đều có thể trở thành những chứng nhân cho Chúa, kéo người khác ra khỏi biển cả của sự cô đơn và vô vọng.

Tuy nhiên, để có thể đáp trả tiếng gọi của Chúa, chúng ta cũng phải học bài học của sự từ bỏ. “Chài lưới” của chúng ta hôm nay là gì? Có thể đó là sự quyến luyến quá mức vào của cải vật chất, nỗi sợ hãi về một tương lai không chắc chắn, sự ham mê tiện nghi và hưởng thụ. “Con thuyền” của chúng ta có thể là những thành kiến, những định kiến cố hữu khiến chúng ta không thể mở lòng ra với những điều mới mẻ của Thánh Thần. “Người cha” mà chúng ta cần “bỏ lại” có thể là những mối tương quan không lành mạnh, những áp lực của dư luận, hay chính cái tôi kiêu ngạo luôn muốn tự quyết định cuộc đời mình mà không cần đến Chúa. Sự từ bỏ luôn đi kèm với đau đớn, nhưng đó là cái giá phải trả để có được sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Chỉ khi đôi tay ta buông ra những gì ta đang nắm giữ, ta mới có thể nắm lấy bàn tay Chúa đang chìa ra cho ta.

Sự đáp trả “lập tức” của các môn đệ là một lời nhắc nhở chúng ta về sự khẩn trương của đời sống Kitô hữu. Chúng ta không có mãi mãi thời gian. Mỗi ngày là một món quà và cũng là một trách nhiệm. Đừng để cho sự lười biếng, sự sợ hãi hay sự tính toán của con người làm chúng ta bỏ lỡ tiếng gọi của Chúa. Như Thánh Augustinô đã từng thốt lên: “Lạy Chúa, con sợ Chúa đi qua mà con không nhận ra”. Xin cho chúng ta cũng có được sự nhạy bén thiêng liêng ấy, để nhận ra Chúa đang đến và đang gọi chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời.

Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta. Xin cho chúng ta có được đôi tai biết lắng nghe để nhận ra tiếng Chúa gọi giữa muôn vàn âm thanh ồn ào của cuộc sống. Xin cho chúng ta có được một trái tim can đảm để “lập tức” đáp lại tiếng gọi ấy, dám từ bỏ những gì đang cản bước chúng ta đến gần Chúa. Và xin cho chúng ta có được một tinh thần tông đồ nhiệt thành, để trong môi trường sống của mình, chúng ta có thể trở thành những “kẻ lưới người” hữu hiệu, đưa nhiều tâm hồn về cho Chúa. Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã gọi các môn đệ xưa, cũng hãy nhìn đến chúng ta với ánh mắt yêu thương, gọi tên từng người chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh để đi theo Người cho đến cùng. Amen.

BƯỚC RA KHỎI CON THUYỀN AN TOÀN

Lm. Anmai, CSSR

Trong tâm thức của mỗi con người chúng ta, có lẽ ai cũng mang trong mình một khao khát sâu xa về sự an toàn, về sự ổn định. Chúng ta đi tìm sự an toàn trong một công việc có thu nhập cao, trong một mái ấm gia đình, trong những mối quan hệ thân quen, trong những thói quen và lịch trình được sắp đặt sẵn. Chúng ta giống như những người thủy thủ, luôn cảm thấy yên tâm nhất khi con thuyền của mình đang neo đậu trong một bến cảng quen thuộc, hoặc ít nhất là đang di chuyển trên một hải trình đã được vạch sẵn, với đầy đủ hải đồ và la bàn. Con thuyền và bến cảng ấy chính là biểu tượng cho vùng an toàn của chúng ta, nơi chúng ta cảm thấy mình kiểm soát được mọi thứ, nơi những rủi ro được giảm thiểu đến mức tối đa. Đó là một nhu cầu rất con người, rất chính đáng.

Thế nhưng, bài Tin Mừng hôm nay lại đến và khuấy động cái ao hồ bình lặng của sự an toàn ấy. Câu chuyện về ơn gọi của bốn môn đệ đầu tiên không chỉ là một trình thuật lịch sử, mà còn là một lời mời gọi mang tính vĩnh cửu, một lời thách đố cho mỗi Kitô hữu ở mọi thời đại: bạn có dám bước ra khỏi con thuyền an toàn của mình để đi theo Đức Kitô không? Bạn có dám đánh đổi sự ổn định quen thuộc để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhưng đầy bất trắc của Nước Trời không?

Chúng ta hãy cùng trở lại với khung cảnh của Biển Hồ Galilê hơn hai ngàn năm trước. Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan không phải là những kẻ lang thang, không có gì để mất. Họ là những người chủ, những người lao động có nghề nghiệp, có tài sản và có gia đình. Thánh Máccô mô tả Simon và Anrê đang “quăng chài”, còn Giacôbê và Gioan thì đang “vá lưới trong thuyền” cùng với cha và “những người làm công”. Điều này cho thấy họ có một doanh nghiệp gia đình, một cơ nghiệp hẳn hoi. Con thuyền không chỉ là phương tiện đi lại, nó là văn phòng, là nhà xưởng, là nguồn sống của họ. Tấm lưới không chỉ là một công cụ, nó là sự bảo đảm cho bữa ăn hằng ngày, là tương lai của vợ con họ. Biển hồ Galilê, với những con sóng, những luồng cá, là thế giới của họ. Họ hiểu nó, họ gắn bó với nó, và có lẽ, họ cũng tìm thấy sự an toàn trong cái thế giới lao động vất vả nhưng quen thuộc ấy.

Và rồi, Chúa Giêsu đi ngang qua. Thánh Máccô không nói rằng Chúa Giêsu đi tìm họ một cách có chủ đích. Người chỉ đơn giản là “đi dọc theo bờ biển”. Nhưng rồi, “Người thấy”. Cái nhìn của Chúa Giêsu không phải là một cái nhìn lướt qua, vô tình. Đó là một cái nhìn thấu suốt, một cái nhìn của tình yêu tuyển chọn. Trong hàng ngàn người dân sống quanh Biển Hồ, ánh mắt của Người đã dừng lại nơi họ. Người đã thấy Simon, thấy Anrê, thấy Giacôbê, thấy Gioan. Người thấy được đằng sau dáng vẻ của những người ngư dân lam lũ là tiềm năng của những vị tông đồ vĩ đại. Người thấy được đằng sau những bàn tay chai sạn vì kéo lưới là khả năng quy tụ các linh hồn. Cái nhìn của Chúa Giêsu là một cái nhìn sáng tạo, một cái nhìn không chỉ thấy thực tại, mà còn thấy được khả năng, thấy được tương lai huy hoàng mà ân sủng có thể thực hiện nơi một con người.

Cái nhìn ấy được theo sau bởi một lời mời gọi: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như chài”. Lời mời gọi này vừa cuốn hút lại vừa đáng sợ. Nó cuốn hút vì nó mở ra một chân trời hoàn toàn mới, một mục đích sống cao cả hơn nhiều so với việc chỉ bắt cá. Nó hứa hẹn một sự biến đổi tận căn con người họ. Nhưng nó cũng đáng sợ, vì nó đòi hỏi một sự từ bỏ triệt để. “Hãy theo tôi” có nghĩa là hãy rời bỏ con đường quen thuộc mà các anh đang đi. Hãy rời bỏ cái thế giới của cá, của lưới, của thuyền mà các anh đã biết. Hãy đặt chân vào một thế giới mới, thế giới của con người, của các linh hồn, một thế giới mà các anh hoàn toàn xa lạ.

Và điều kỳ diệu đã xảy ra. “Lập tức”. Thánh Máccô lặp đi lặp lại trạng từ này như một điệp khúc để nhấn mạnh tính quyết liệt và dứt khoát trong sự đáp trả của họ. “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người”. “Lập tức, các ông bỏ cha mình… mà đi theo Người”. Sự đáp trả tức thì này không phải là hành động của những kẻ bồng bột, thiếu suy nghĩ. Nó là hoa trái của một cuộc gặp gỡ làm rung chuyển toàn bộ hữu thể. Trong khoảnh khắc ấy, khi ánh mắt của họ gặp ánh mắt của Chúa Giêsu, khi lời của Người chạm đến cõi lòng sâu thẳm của họ, họ đã nhận ra một điều. Họ nhận ra rằng sự an toàn đích thực không nằm ở con thuyền, ở tấm lưới, hay ở người cha. Sự an toàn đích thực nằm ở chính con người Đức Giêsu. Ở lại trong con thuyền mà không có Người thì còn bấp bênh hơn vạn lần việc bước ra khỏi thuyền để đi với Người. Họ đã tin. Tin rằng đi theo Người, dù chưa biết sẽ đi về đâu, mới là con đường dẫn đến sự sống đích thực.

Họ đã bỏ lại tất cả. Simon và Anrê bỏ lại “chài lưới”, biểu tượng của công việc, của sự nghiệp, của kế sinh nhai. Giacôbê và Gioan còn đi xa hơn, họ bỏ lại cả “con thuyền” và “người cha”, biểu tượng của tài sản, của gia đình, của những mối dây thân thương và thiêng liêng nhất. Họ đã thực hiện một cuộc “xuất hành” của riêng mình, ra khỏi mảnh đất nô lệ của sự an toàn trần thế để tiến vào miền đất hứa của Nước Trời. Họ đã dám đặt cược tất cả vào một lời mời gọi.

Câu chuyện này, thưa anh chị em, là tấm gương soi chiếu cuộc đời của mỗi chúng ta. Chúa Giêsu cũng đang không ngừng đi dọc theo “bờ biển” của cuộc đời chúng ta hôm nay. Bờ biển ấy có thể là văn phòng nơi ta làm việc, là ngôi nhà nơi ta sinh sống, là ngôi trường nơi ta học tập, là bệnh viện nơi ta phục vụ. Và Người cũng đang nhìn chúng ta, với ánh mắt yêu thương và tuyển chọn ấy. Người cũng đang mời gọi chúng ta: “Hãy theo tôi”.

Nhưng để có thể nghe được tiếng gọi ấy, chúng ta phải dám đối diện với một câu hỏi: “Con thuyền an toàn của tôi là gì?”. Con thuyền của chúng ta có thể mang nhiều hình dạng khác nhau. Với một số người, đó là sự ổn định của công việc, của đồng lương. Chúng ta sợ thay đổi, sợ dấn thân vào một công việc mới có ý nghĩa hơn nhưng thu nhập lại ít hơn. Chúng ta ngại lên tiếng cho sự thật, cho công lý ở nơi làm việc vì sợ mất lòng cấp trên, sợ ảnh hưởng đến sự nghiệp. Con thuyền đó, dù có vẻ chắc chắn, lại đang giam hãm chúng ta trong sự tầm thường và sợ hãi.

Với một số người khác, con thuyền an toàn là những thói quen đạo đức của chúng ta. Chúng ta đi lễ hằng tuần, chúng ta đọc kinh hằng ngày, chúng ta làm một vài việc từ thiện. Chúng ta cảm thấy “an toàn” trong việc chu toàn những bổn phận ấy. Nhưng chúng ta có dám để cho Chúa thực sự khuấy động cuộc sống của mình không? Chúng ta có dám để cho Lời Chúa chất vấn những chọn lựa của mình, hay chúng ta chỉ nghe Lời Chúa một cách thụ động rồi lại trở về với nếp sống cũ? Con thuyền của “sự đạo đức hình thức” có thể là một trong những con thuyền khó từ bỏ nhất.

Với những người khác nữa, con thuyền an toàn là những định kiến, những thành kiến của chúng ta. Chúng ta đóng khung Thiên Chúa trong những hiểu biết hạn hẹp của mình. Chúng ta đóng khung người khác trong những nhãn mác mà ta gán cho họ. Chúng ta không dám mở lòng ra để đối thoại với những người có suy nghĩ khác mình, có niềm tin khác mình. Chúng ta cảm thấy an toàn khi ở trong “cái pháo đài” của những chân lý mà ta cho là bất biến. Nhưng Chúa Giêsu lại kêu gọi chúng ta ra khỏi pháo đài đó, để gặp gỡ, để lắng nghe, để yêu thương.

Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu chính là chìa khóa để chúng ta có thể bước ra khỏi con thuyền: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Sám hối chính là nhận ra rằng con thuyền của chúng ta, dù có vẻ an toàn đến đâu, cũng không phải là cứu cánh của cuộc đời. Sám hối là nhận ra rằng chúng ta đã quá tin tưởng vào sức mình, vào sự khôn ngoan của mình, vào những bảo đảm của trần thế. Sám hối là quay bánh lái của con thuyền cuộc đời, không còn hướng về cái tôi nữa, mà hướng về phía Chúa Giêsu đang đứng trên bờ.

Tin vào Tin Mừng là có đủ lòng tin để dám bước một bước chân ra khỏi mạn thuyền. Tin rằng lời hứa của Chúa Giêsu “tôi sẽ làm cho các anh trở thành…” là một lời hứa chắc chắn hơn bất cứ hợp đồng bảo hiểm nào của trần gian. Tin rằng mất đi sự an toàn của thế gian để có được Chúa thì không phải là mất, mà là được. Tin rằng cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa và phong phú hơn khi chúng ta không còn sống cho chính mình, mà sống cho sứ mạng “lưới người” mà Chúa trao phó.

Chắc chắn sẽ có sự sợ hãi. Các môn đệ, trong khoảnh khắc quyết định ấy, chắc hẳn cũng đã cảm thấy sợ. Sợ về tương lai, sợ về gia đình, sợ về sự bất định. Nhưng đức tin không phải là sự vắng bóng của nỗi sợ, mà là hành động bất chấp nỗi sợ. Họ đã hành động, và khi họ bước đi, họ đã khám phá ra rằng bàn tay của Chúa luôn ở đó để nâng đỡ họ.

Ngày hôm nay, trong Thánh Lễ này, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta ơn can đảm. Can đảm để nhận diện “con thuyền an toàn” đang giam giữ chúng ta. Can đảm để lắng nghe tiếng Chúa gọi, dù tiếng gọi ấy có vẻ điên rồ và phi lý trong mắt người đời. Can đảm để “lập tức” đáp lời, không trì hoãn, không tính toán. Can đảm để bỏ lại sau lưng những “chài lưới” của sự quyến luyến, những “người cha” của sự lệ thuộc, để hoàn toàn tự do đi theo Đức Kitô.

Mỗi người chúng ta đều có một sứ mạng “lưới người” trong bậc sống của mình. Chúng ta không cần phải đợi đến một ngày nào đó mới bắt đầu. Ngay hôm nay, chúng ta có thể quăng một mẻ lưới của sự tha thứ cho người đã làm tổn thương ta. Ngay hôm nay, chúng ta có thể quăng một mẻ lưới của lời nói an ủi cho một người đang thất vọng. Ngay hôm nay, chúng ta có thể quăng một mẻ lưới của một hành động bác ái cụ thể cho một người đang thiếu thốn.

Xin Chúa Giêsu, Đấng vẫn đang kiên nhẫn đi dọc bờ biển cuộc đời chúng ta, ban cho chúng ta một trái tim quảng đại như các môn đệ xưa. Xin đừng để chúng ta quá yêu quý con thuyền của mình đến nỗi không nghe được tiếng Người gọi. Xin đừng để chúng ta quá sợ hãi sóng gió đến nỗi không dám ra khơi với Người. Vì chúng ta biết rằng, con thuyền nguy hiểm nhất chính là con thuyền không có Chúa, và đại dương an toàn nhất chính là đại dương mà chúng ta cùng chèo lái với Người. Amen.

TỪ NGƯ PHỦ THÀNH TÔNG ĐỒ: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA MỘT CĂN TÍNH

Lm. Anmai, CSSR

Một trong những câu hỏi nền tảng nhất của kiếp người là câu hỏi: “Tôi là ai?”. Từ thuở xa xưa cho đến tận ngày nay, con người vẫn luôn trăn trở đi tìm câu trả lời cho căn tính của mình. Chúng ta thường định nghĩa bản thân qua những gì chúng ta làm, những gì chúng ta có, hoặc những mối tương quan của chúng ta. “Tôi là một bác sĩ”, “Tôi là một giáo viên”, “Tôi là một người mẹ”, “Tôi là giám đốc của một công ty”. Những danh xưng ấy, những vai trò ấy tạo nên một phần quan trọng trong con người chúng ta. Chúng cho chúng ta một vị trí trong xã hội, một mục đích để phấn đấu. Nhưng liệu đó có phải là tất cả con người của chúng ta không? Liệu căn tính sâu xa nhất của chúng ta có chỉ đơn thuần là nghề nghiệp hay vai trò xã hội không?

Tin Mừng hôm nay kể lại một câu chuyện không chỉ về việc thay đổi nghề nghiệp, mà là về một cuộc biến đổi căn tính tận gốc rễ. Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi những người ngư dân đi làm một công việc khác. Người hứa hẹn sẽ làm cho họ trở thành một con người khác. Lời của Người: “Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như chài”, chính là một lời hứa về một sự tái sinh, một sự sáng tạo mới. Đây là câu chuyện về hành trình biến đổi từ một người ngư phủ bình thường thành một vị Tông đồ của Nước Trời, một hành trình mà mỗi người chúng ta cũng được mời gọi bước vào.

Hãy nhìn vào căn tính ban đầu của các môn đệ. Họ là những ngư phủ. Nghề nghiệp này đã định hình nên con người họ. Họ là những con người của biển cả, quen với nắng gió, với lao động chân tay nặng nhọc. Họ có lẽ là những người thực tế, ít học, không thuộc giới tinh hoa hay trí thức của xã hội Do Thái. Căn tính của họ gắn liền với mùi cá, với vị mặn của biển, với sự thô ráp của những tấm lưới. Họ có thể tự định nghĩa mình: “Tôi là Simon, người đánh cá”, “Tôi là Gioan, con của ông Dêbêđê, làm nghề chài lưới”. Đó là thế giới của họ, là căn tính của họ.

Và Chúa Giêsu đã đến, không phải để xóa bỏ căn tính ấy, mà để biến đổi và nâng nó lên một tầm cao mới. Người không nói: “Hãy vứt bỏ quá khứ của các anh đi, hãy quên rằng mình đã từng là ngư phủ”. Trái lại, Người lấy chính hình ảnh thân thuộc nhất của họ để mặc khải cho họ một căn tính mới. “Lưới người”. Những kỹ năng mà họ đã có – sự kiên nhẫn, sự can đảm đối mặt với sóng gió, sự nhạy bén để biết lúc nào nên quăng lưới, sự hợp tác với nhau – tất cả những điều đó sẽ không bị vứt bỏ. Chúng sẽ được thánh hiến, được sử dụng cho một mục đích cao cả hơn. Sự kiên nhẫn khi chờ cá sẽ trở thành sự kiên nhẫn với các linh hồn. Sự can đảm trước biển cả sẽ trở thành sự can đảm làm chứng cho Tin Mừng trước mặt vua chúa. Sự nhạy bén của người đi biển sẽ trở thành sự nhạy bén thiêng liêng để nhận ra thời điểm của Thiên Chúa.

Điều quan trọng nhất trong lời hứa của Chúa Giêsu nằm ở cụm từ “Tôi sẽ làm cho các anh trở thành…”. Sự biến đổi này không phải là kết quả của nỗ lực hay tài năng của các môn đệ. Họ không thể tự mình “trở thành” những kẻ lưới người. Đó là một công trình của ân sủng. Chính Chúa Giêsu, bằng quyền năng và tình yêu của Người, sẽ nhào nặn, uốn nắn và tái tạo họ. Giống như người thợ gốm lấy cục đất sét và tạo nên một chiếc bình quý, Chúa Giêsu cũng sẽ lấy những con người yếu đuối, tội lỗi của họ và biến họ thành những khí cụ cho Nước Trời. Đây là một lời khẳng định đầy an ủi cho mỗi chúng ta: ơn gọi của Chúa không dựa trên những gì chúng ta đang có, mà dựa trên những gì Người có thể làm nơi chúng ta. Người không gọi những người có khả năng, nhưng Người ban khả năng cho những người Người gọi.

Hành trình biến đổi này bắt đầu bằng hai mệnh lệnh: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Sám hối, “metanoia”, chính là bước đầu tiên để từ bỏ căn tính cũ. Đó là sự thừa nhận rằng căn tính được xây dựng trên cái tôi, trên những thành công hay thất bại của trần gian, là một căn tính mỏng manh và không thể mang lại hạnh phúc đích thực. Sám hối là nói với Chúa: “Lạy Chúa, con người cũ của con, con người chỉ biết lo cho bản thân, cho con thuyền, cho tấm lưới của mình, là một con người nghèo nàn. Con muốn trở thành một con người mới theo hình ảnh của Chúa”. Đó là một sự “chết đi” cho căn tính cũ để có thể được sinh lại trong một căn tính mới.

Đi đôi với sám hối là lòng tin. Tin không chỉ là chấp nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa, mà là tin vào cái nhìn của Người về chúng ta. Simon Phêrô sau này, trong một lần khác, đã thưa với Chúa: “Lạy Thầy, xin tránh xa con ra, vì con là kẻ tội lỗi”. Đó là cái nhìn của Phêrô về chính mình, là căn tính “tội nhân” của ông. Nhưng Chúa Giêsu lại nhìn ông và nói: “Anh là Phêrô, và trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Đó là cái nhìn của Chúa, là căn tính mới mà Chúa muốn ban cho ông. Tin vào Tin Mừng là dám từ bỏ cái nhìn tự ti, mặc cảm của mình để đón nhận cái nhìn đầy yêu thương và hy vọng của Thiên Chúa về chúng ta. Tin là để cho lời hứa “Tôi sẽ làm cho anh trở thành…” trở thành sự thật định hình cuộc đời mình.

Quá trình biến đổi này không phải là một phép lạ xảy ra trong một sớm một chiều. Các môn đệ, dù đã “lập tức” đi theo Chúa, vẫn còn mang trong mình rất nhiều yếu tố của con người cũ. Họ vẫn tranh giành nhau xem ai lớn hơn. Họ vẫn không hiểu những lời giảng dạy của Thầy. Phêrô đã chối Thầy ba lần. Tất cả đã bỏ chạy khi Thầy bị bắt. Công trình “làm cho họ trở thành” của Chúa Giêsu là một công trình kéo dài suốt ba năm Người ở với họ, và còn tiếp tục sau khi Người Phục Sinh, qua tác động của Chúa Thánh Thần. Điều này dạy chúng ta về sự kiên nhẫn. Kiên nhẫn với chính mình và kiên nhẫn với tha nhân trong hành trình trở nên môn đệ. Sự biến đổi nên giống Chúa Kitô là công trình của cả một đời người.

Thưa anh chị em, câu chuyện này nói gì với chúng ta hôm nay? Mỗi người chúng ta, dù là ai, đang làm gì, cũng được Chúa Giêsu mời gọi bước vào hành trình biến đổi căn tính này. Căn tính sâu xa nhất và cao quý nhất của chúng ta không phải là “bác sĩ”, “kỹ sư” hay “nội trợ”. Căn tính nền tảng của chúng ta là “con cái Thiên Chúa” và “môn đệ của Đức Kitô”. Tất cả những vai trò khác trong xã hội phải được đặt nền trên và được soi sáng bởi căn tính nền tảng này.

Chúa Giêsu không muốn chúng ta từ bỏ nghề nghiệp của mình, nhưng Người muốn biến đổi nó. Người muốn một người bác sĩ không chỉ chữa bệnh thể xác, mà còn trở thành một “kẻ lưới người” bằng cách mang lại niềm an ủi và hy vọng của Chúa cho bệnh nhân. Người muốn một người giáo viên không chỉ dạy kiến thức, mà còn trở thành một “kẻ lưới người” bằng cách giáo dục các em thành những con người có lương tâm và lòng nhân ái. Người muốn một người làm kinh doanh không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn trở thành một “kẻ lưới người” bằng cách tạo ra một môi trường làm việc công bằng và thăng tiến con người. Sứ mạng không phải là một công việc làm thêm vào cuối tuần. Sứ mạng chính là sống căn tính môn đệ của chúng ta ngay trong chính hoàn cảnh sống của mình.

Để cuộc biến đổi này xảy ra, chúng ta cũng phải bỏ lại những “tấm lưới” của căn tính cũ. Tấm lưới của sự kiêu ngạo, khi chúng ta quá tự hào về những thành công và kiến thức của mình. Tấm lưới của sự mặc cảm, khi chúng ta bị trói buộc bởi những thất bại và yếu đuối trong quá khứ. Tấm lưới của sự sợ hãi, khi chúng ta không dám sống thật với niềm tin của mình vì sợ bị người khác chê cười hay xa lánh. Tấm lưới của sự ích kỷ, khi chúng ta chỉ muốn sống một cuộc đời an phận cho riêng mình mà không quan tâm đến nhu cầu của những người xung quanh.

Hôm nay, khi chúng ta đến với bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta được kết hợp một cách mật thiết với chính Chúa Giêsu. Chính Người, qua Mình và Máu Thánh, sẽ tiếp tục công trình “làm cho chúng ta trở thành…”. Mỗi lần chúng ta rước lễ là một lần chúng ta nói với Chúa: “Lạy Chúa, xin hãy biến đổi con. Xin lấy đi con người cũ của con và ban cho con một trái tim mới, một tinh thần mới. Xin làm cho con trở nên giống Chúa hơn”.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, khi ra về sau Thánh lễ này, ý thức hơn về căn tính cao quý của mình là môn đệ Chúa Kitô. Xin cho chúng ta ơn can đảm để cộng tác với ơn Chúa trong hành trình biến đổi mỗi ngày. Và xin cho cuộc sống của chúng ta, dù âm thầm hay công khai, cũng trở thành một mẻ lưới tình thương, kéo nhiều tâm hồn về với Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi sự sống và mọi căn tính đích thực. Amen.

Có thể bạn quan tâm